Đóng

Thực thi RCEP: Chuyển cơ hội thành năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

Theo TS. Tô Hoài Nam, hiệu quả tận dụng Hiệp định RCEP không chỉ là kim ngạch thương mại mà là doanh nghiệp Việt Nam giữ lại được bao nhiêu giá trị trong chuỗi cung ứng.

Sau hơn 4 năm có hiệu lực, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) mang lại nhiều cơ hội cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khối doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, tỷ lệ doanh nghiệp tận dụng hiệu quả các cam kết của Hiệp định RCEP vẫn còn khiêm tốn.

TS. Tô Hoài Nam - Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) đã có những chia sẻ xung quanh vấn đề này với Báo Công Thương. 

Hiệp định RCEP mở ra khả năng tiếp cận các chuỗi cung ứng mới cho doanh nghiệp Việt Nam.

Tăng khả năng tiếp cận các chuỗi cung ứng mới

- Sau hơn 4 năm thực thi, ông chia sẻ gì về cơ hội Hiệp định RCEP đã mang lại cho doanh nghiệp Việt Nam trong việc mở rộng thị trường, tham gia chuỗi cung ứng khu vực và nâng cao năng lực cạnh tranh ?

TS. Tô Hoài Nam: Ở góc độ đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, tôi cho rằng những cơ hội mà Hiệp định RCEP mang lại là rất lớn.

Trước hết, RCEP giúp doanh nghiệp tham gia vào khu vực tự do thương mại lớn nhất thế giới, mở ra khả năng tiếp cận các chuỗi cung ứng mới, đặc biệt nhờ bộ quy tắc xuất xứ hài hòa và các quy định thuận lợi hóa thương mại. Nhờ vậy, doanh nghiệp có thể thiết lập được thị trường xuất khẩu ổn định, lâu dài; đồng thời thu hút thêm dòng vốn đầu tư trực tiếp, góp phần tạo dựng môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy quá trình tái cấu trúc nền kinh tế.

Điểm đáng chú ý hơn là RCEP không chỉ mở thêm thị trường, mà còn tạo ra một “không gian sản xuất khu vực” tương đối thống nhất. Cơ chế cộng gộp xuất xứ cho phép doanh nghiệp tổ chức lại nguồn nguyên liệu và công đoạn sản xuất trong toàn khối để đáp ứng xuất xứ thuận lợi hơn; đây là cơ hội thực chất để doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia từng khâu phù hợp trong chuỗi giá trị, thay vì nhất thiết phải tự làm toàn bộ một sản phẩm xuất khẩu.

Bên cạnh đó, RCEP còn góp phần nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Hiệp định này đã và đang góp phần củng cố các chuỗi cung ứng khu vực, mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, năm 2025, tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam với các nước thành viên RCEP đã đạt gần 503 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt khoảng 171 tỷ USD, tăng hơn 30% so với thời điểm Hiệp định bắt đầu có hiệu lực vào năm 2022.

Theo Bộ Tài chính, GDP 6 tháng đầu năm 2026 ước tăng 8,18% - mức cao nhất kể từ năm 2011, trong đó xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ tăng tới hơn 20% so với cùng kỳ. Trong bức tranh chung đó, việc doanh nghiệp nhỏ và vừa tận dụng tốt hơn các ưu đãi từ RCEP chính là một trong những dư địa quan trọng để đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng đã đề ra.

Tuy nhiên, thời gian tới, theo tôi, thước đo quan trọng của RCEP trong giai đoạn tới không chỉ là kim ngạch thương mại tăng bao nhiêu, mà là doanh nghiệp Việt Nam giữ lại được bao nhiêu giá trị trong chuỗi cung ứng khu vực. Nếu chỉ tăng xuất khẩu nhưng vẫn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu, công nghệ và khâu phân phối bên ngoài, thì dư địa mà RCEP tạo ra chưa được chuyển hóa đầy đủ thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

- Vậy, từ góc độ cơ quan đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, theo ông đâu là những hạn chế, điểm nghẽn trong việc khai thác và tận dụng hiệu quả Hiệp định RCEP của doanh nghiệp ?

TS. Tô Hoài Nam: Bên cạnh những cơ hội rất lớn, mức độ tận dụng RCEP của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện vẫn còn khá hạn chế, xuất phát từ nhiều điểm nghẽn cả về chủ quan lẫn khách quan.

Thứ nhất, về nhận thức, không ít doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ và nhỏ, vẫn chưa hiểu đầy đủ về các cam kết cụ thể của RCEP, đặc biệt là những nội dung mang tính kỹ thuật như cộng gộp xuất xứ trong khu vực, cơ chế giải quyết tranh chấp hay quy trình kiểm tra sau thông quan. Việc thiếu thông tin khiến doanh nghiệp khó chủ động xây dựng chiến lược tận dụng ưu đãi thuế quan.

Thứ hai, năng lực đáp ứng quy tắc xuất xứ và tiêu chuẩn kỹ thuật của nhiều doanh nghiệp còn hạn chế. Để được hưởng ưu đãi thuế quan theo RCEP, doanh nghiệp phải chứng minh được nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, trong khi năng lực quản trị, lưu trữ chứng từ, kiểm soát chuỗi cung ứng nguyên liệu đầu vào của phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa còn yếu.

Thứ ba, khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng khu vực còn thấp do quy mô vốn nhỏ, trình độ công nghệ chưa đồng đều, đồng thời thiếu liên kết với các doanh nghiệp đầu chuỗi hoặc doanh nghiệp FDI. Ngoài ra, việc chuyển đổi số trong hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp này cũng còn chậm, khiến doanh nghiệp khó tận dụng các nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới hay các công cụ quản trị rủi ro tỷ giá, rủi ro thị trường trong bối cảnh thương mại quốc tế nhiều biến động.

Điểm nghẽn cốt lõi, vì vậy, không chỉ là doanh nghiệp “biết hay chưa biết” về RCEP, mà là khả năng biến một cam kết thương mại thành một đơn hàng có thể thực hiện được. Doanh nghiệp có thể biết thuế suất ưu đãi, nhưng nếu không đáp ứng được đồng thời xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc, thời hạn giao hàng và năng lực tài chính cho đơn hàng thì cơ hội vẫn chỉ nằm trên giấy.

TS. Tô Hoài Nam - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.

Hình thành các gói hỗ trợ ngắn, chuyên sâu theo chuỗi

- Từ thực tiễn hiện nay, để RCEP thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh thương mại toàn cầu nhiều biến động, ông có những kiến nghị, đề xuất gì?

TS. Tô Hoài Nam: Về phía cơ quan quản lý, tôi cho rằng cần tập trung vào bốn nhóm giải pháp chính, cụ thể:

Một là, cung cấp đào tạo kỹ thuật thực tiễn cho doanh nghiệp: tăng cường các chương trình hướng dẫn, hỗ trợ chuyên biệt để giúp doanh nghiệp tận dụng RCEP trong các giao dịch thực tế, đặc biệt với những quy định phức tạp như cộng gộp khu vực, giải quyết tranh chấp, kiểm tra sau thông quan.

Hai là, đa dạng hóa và cải thiện các kênh cung cấp thông tin về RCEP, phát triển các cổng thông tin kiến thức số, cơ sở dữ liệu theo ngành thông qua các hiệp hội doanh nghiệp, nhằm giảm sự phụ thuộc quá mức vào một số ít kênh thông tin từ các cơ quan trung ương.

Ba là, đẩy nhanh chuyển đổi số trong hoạt động thương mại, nâng cao mức độ sẵn sàng thương mại điện tử của doanh nghiệp thông qua việc cải thiện tốc độ xử lý của các nền tảng số, tăng cường hỗ trợ thương mại điện tử xuyên biên giới, hệ thống thanh toán số và quản lý rủi ro tỷ giá.

Bốn là, tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các chính sách thúc đẩy nâng cấp công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Tôi cho rằng cách hỗ trợ cũng cần đổi từ phổ biến chính sách theo diện rộng sang hỗ trợ theo “bài toán giao dịch” của từng nhóm ngành, từng thị trường. Có thể hình thành các gói hỗ trợ ngắn, chuyên sâu theo chuỗi: xác định thị trường và đối tác, kiểm tra quy tắc xuất xứ, chuẩn hóa sản phẩm, hoàn thiện chứng từ, logistics, thanh toán và phòng vệ thương mại. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, một quy trình hỗ trợ đi đến được đơn hàng cụ thể có giá trị hơn nhiều chương trình tuyên truyền nhưng khó đo được kết quả.

Về phía doanh nghiệp, trước hết cần chủ động nâng cao năng lực tận dụng RCEP bằng cách đầu tư đào tạo nhân sự, nâng cao kiến thức pháp lý và tuân thủ thương mại, xây dựng đội ngũ chuyên trách theo dõi, triển khai việc thực hiện các Hiệp định thương mại tự do (FTA). Doanh nghiệp cũng cần chủ động khai thác các lợi ích của RCEP ngoài các quy định truyền thống, đặc biệt chú trọng các cơ chế như cộng gộp khu vực, thuận lợi hóa thương mại số, tích hợp chuỗi cung ứng và đa dạng hóa thị trường trong các nước thành viên.

Một hướng rất thực tiễn là lấy liên kết doanh nghiệp làm “đường ngắn” để doanh nghiệp nhỏ và vừa đi vào RCEP: kết nối doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp đầu chuỗi, doanh nghiệp FDI và hệ thống phân phối tại các thị trường thành viên. Đồng thời công khai nhu cầu mua hàng, tiêu chuẩn nhà cung cấp và lộ trình nội địa hóa. Khi doanh nghiệp biết rõ mình phải đạt chuẩn gì để trở thành nhà cung ứng, hỗ trợ của Nhà nước và hiệp hội mới có địa chỉ và có thể đo lường bằng kết quả.

Cùng với đó, doanh nghiệp cần đẩy nhanh chuyển đổi số, giảm phụ thuộc vào quy trình thủ công, giấy tờ; tăng đầu tư vào hạ tầng số và kỹ năng số cho người lao động. Cuối cùng, doanh nghiệp cần tăng cường năng lực quản trị rủi ro trong thương mại xuyên biên giới, theo dõi chặt chẽ biến động của thị trường khu vực, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng trong bối cảnh cạnh tranh khu vực ngày càng gia tăng dưới tác động của RCEP.

Trong bối cảnh Chính phủ giao thực hiện chỉ tiêu tăng trưởng hai con số cho năm 2026 và cả giai đoạn 2026 - 2030 tại Nghị quyết 169/NQ-CP, một trong những yêu cầu then chốt là phải chuyển trọng tâm hỗ trợ từ các giải pháp ứng phó ngắn hạn sang những chính sách nâng cao năng lực doanh nghiệp một cách căn cơ, dài hạn. Cụ thể, cần sớm hoàn thiện thể chế để doanh nghiệp nhỏ và vừa được tiếp cận bình đẳng các nguồn lực, nhất là tín dụng - chuyển dần cách đánh giá từ dựa trên tài sản thế chấp sang đánh giá dựa trên dòng tiền, đơn hàng xuất khẩu và lịch sử tuân thủ, trong đó có việc tận dụng các FTA như RCEP.

Đồng thời, cần xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững, thay vì những chương trình hỗ trợ đơn lẻ, rời rạc như hiện nay. Quan trọng hơn, chính sách cần tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư vào năng lực đáp ứng chuẩn mực thị trường, chứ không chỉ hỗ trợ chi phí; bởi lợi thế bền vững trong RCEP cuối cùng vẫn là năng lực giao hàng đúng chuẩn, đúng hạn và với chi phí cạnh tranh.

- Xin cảm ơn ông!

Hiệp định RCEP được ký kết giữa 10 nước ASEAN và 5 nước đối tác (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand) vào ngày 15/11/2020, chính thức có hiệu lực từ 1/1/2022, hiện đã có hiệu lực với toàn bộ các nước ký kết. Đây là hiệp định có quy mô thị trường lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 30% dân số, 30% GDP và khoảng 30% thương mại toàn cầu.

Bảo Thoa (thực hiện)