Đóng

Tìm giải pháp nâng sức cạnh tranh nông sản Việt

(VEN) - Đổi mới sản xuất, tạo ra những sản phẩm tốt, đảm bảo an toàn thực phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường quốc tế… là những việc mà ngành nông nghiệp cần phải tập trung thực hiện trong thời gian tới.

Với việc đáp ứng được các yêu cầu khắt khe, một số nông sản Việt Nam đã có mặt tại các thị trường khó tính như Nhật Bản, Úc…

Là tỉnh có tỷ trọng nông nghiệp chiếm 36% GDP, Đồng Tháp đang đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là Đề án tái cơ cấu, tập trung vào một số ngành hàng lớn. Mặc dù vậy, theo ông Nguyễn Hữu Xuân, Giám đốc Sở Ngoại vụ Đồng Tháp, sản xuất nông nghiệp của tỉnh còn nhiều hạn chế, quy mô nhỏ lẻ, chất lượng không đồng đều, thị trường tiêu thụ thiếu ổn định. Sản phẩm sản xuất ra chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường nước ngoài. Năng lực hợp tác xã yếu, khó khăn trong liên kết sản xuất nông nghiệp, thiếu chặt chẽ giữa doanh nghiệp (DN) trong tỉnh. Cơ khí hóa nông nghiệp hạn chế, nhất là khâu thu hoạch bảo quản, gây khó cho XK. Giá trị gia tăng của sản phẩm còn thấp, chủ yếu XK sản phẩm thô nên sức cạnh tranh yếu. Thông tin về hội nhập quốc tế, về các hiệp định thương mại tự do (FTA) chưa nhiều, DN nắm chưa sâu phương án để giải quyết, tiếp cận.

Bắt bệnh những yếu tố gây ảnh hưởng xấu đến tình hình XK nông sản thời gian qua, ông Katsuro Nagai, Công sứ Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam cho biết: Ngành nông nghiệp Việt Nam yếu ở một số khâu cơ bản như sản xuất, chế biến và phân phối sản phẩm. Quy mô sản xuất nông nghiệp Việt Nam thường nhỏ, chỉ khoảng 0,62ha/hộ gia đình, rất khó để nông dân nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm của mình. Bên cạnh đó, ở khâu chế biến cũng chưa phân biệt rõ nét sản phẩm nào thuộc phân khúc thị trường nào, trung cấp hay cao cấp. Ở khâu phân phối, vấn đề bảo quản sản phẩm còn hạn chế, nhiều sản phẩm rau quả tươi khi vận chuyển xa thường bị hỏng do chưa có xe chuyên dụng để làm lạnh sản phẩm. Đồng thời, các vấn đề đảm bảo an toàn thực phẩm, xây dựng thương hiệu cần đặc biệt chú trọng. Hiện các sản phẩm VietGap của Việt Nam đã có nhưng chưa phổ biến, chiếm khoảng 0,24% trên tổng số sản phẩm nông sản. Việt Nam phải nhân rộng mô hình và có sự kiểm tra sát sao để không gây mất niềm tin của người tiêu dùng. “Sản xuất nông nghiệp không cần lượng mà phải ưu tiên chất, Việt Nam có thế mạnh trong một số lĩnh vực thì cần phải chú trọng vào thế mạnh của mình để tạo sự khác biệt”, ông Katsuro Nagai nói.

Đồng quan điểm, PGS TS Trần Kim Chung, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng, cạnh tranh hàng nông lâm thủy sản không chỉ ở giá và chất lượng mà còn cả ở kênh phân phối. Các DN nước ta cần gấp rút thiết lập kênh phân phối sản phẩm ở các nước thay vì phó mặc cho các đối tác nước ngoài. Ông Bùi Thanh Sơn, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nhận định, Việt Nam đang tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng với việc tham gia đàm phán ký kết thêm nhiều FTA song phương và liên khu vực. Với các ưu đãi về thuế của các khuôn khổ FTA, nhiều mặt hàng nông sản của nước ta sẽ có cơ hội tiếp cận các thị trường nhập khẩu rộng lớn, nhưng cũng chịu sức ép cạnh tranh ngày càng lớn hơn ở cả thị trường trong nước và nước ngoài. Để nông sản XK khẳng định hơn nữa vị thế của mình, Việt Nam cần nghiên cứu xây dựng liên minh ngành hàng chiến lược với sự tham gia của các nước XK khác.

Nguyễn Hạnh

 

Nguồn: