Đóng

Tín dụng - lực đẩy cho các lĩnh vực ngành Công Thương

Dòng tín dụng đang tăng tốc, hướng vào năng lượng, công nghiệp và thương mại, tạo lực kéo mới cho tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh chuyển dịch mô hình phát triển.

“Mạch máu” chuyển đổi

Dưới nhịp chuyển động của nền kinh tế năm 2025, tín dụng không còn là dòng chảy trung tính mà đang mang dáng dấp của “vó ngựa” mạnh mẽ, dồn dập và có chủ đích. Khi các nghị quyết lớn đồng loạt “mở đường”, dòng vốn ngân hàng được định hướng rõ ràng hơn, tập trung vào những “địa chỉ chiến lược” của tăng trưởng như: đầu tư công nghiệp, công nghệ cao, chovay sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, năng lượng, tín dụng xanh và hỗ trợ các ngành kinh tế mũi nhọn. Đồng thời, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững, đi đôi với quản lý rủi ro và chất lượng tín dụng. Trong “bức tranh” ấy, tín dụng vừa là lực kéo, vừa là phép thử cho năng lực hấp thụ và tái cấu trúc của nền kinh tế.

Bốn nghị quyết trụ cột ban bành trong năm 2025 đã tạo nên nền tảng chính sách hiếm thấy về độ đồng bộ, từ khoa học - công nghệ, hội nhập quốc tế, hoàn thiện thể chế, đến phát triển kinh tế tư nhân. Trên nền tảng đó, tín dụng được giao vai trò cung ứng vốn - công cụ dẫn dắt, lựa chọn và khuếch đại các động lực tăng trưởng mới.

Đến ngày 24/12, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt trên 18,4 triệu tỷ đồng. Ảnh: Văn Hưng

Thực tế cho thấy, dòng vốn đã có sự chuyển dịch đáng kể. Theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 24/12, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt trên 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với cuối năm 2024, với cơ cấu tín dụng bám sát các lĩnh vực ưu tiên, đặc biệt là những ngành có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa dài hạn.

Đáng chú ý, tín dụng cho các lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ duy trì tốc độ tăng trưởng 2 chữ số trong nhiều năm liên tiếp. Điều này cho thấy, “vó ngựa” tín dụng không “phi nước đại” ngẫu nhiên, mà đang được điều hướng theo cấu trúc lại nền kinh tế, gia tăng năng lực nội sinh và giảm dần sự phụ thuộc vào các yếu tố tăng trưởng ngắn hạn. Trong bối cảnh đó, năng lượng, đặc biệt là năng lượng tái tạo, nổi lên như một điểm hội tụ lớn của dòng vốn.

Theo PGS.TS Đặng Trần Thọ - Viện trưởng Viện Công nghệ năng lượng (Đại học Bách khoa Hà Nội), quá trình chuyển đổi năng lượng của Việt Nam đang diễn ra trong một không gian cấp bách, nhiều thách thức. Cơ cấu năng lượng sơ cấp hiện nay vẫn nghiêng mạnh về than và dầu khí, trong khi tỷ trọng năng lượng tái tạo mới chỉ chiếm phần nhỏ. Để hiện thực hóa mục tiêu Net Zero vào năm 2050, Việt Nam cần nguồn vốn đầu tư bổ sung lên tới 8 - 10 tỷ USD/năm cho năng lượng tái tạo, hạ tầng và công nghệ lưu trữ. Đây là “bài toán” tài chính lớn, vượt quá khả năng của ngân sách nhà nước và buộc phải trông cậy vào dòng vốn xã hội, trong đó tín dụng ngân hàng giữ vai trò then chốt.

Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đã mở ra không gian chính sách mới, cho phép nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia đầu tư, chia sẻ gánh nặng tài chính. Trong bối cảnh đó, tín dụng xanh không chỉ là một khái niệm mang tính định hướng, mà đã trở thành dòng vốn thực chất. Sau hơn một thập kỷ thúc đẩy, dư nợ tín dụng xanh tăng trưởng bình quân 22%/năm, riêng lĩnh vực năng lượng tái tạo ghi nhận mức tăng vượt trội. Nếu năm 2017, dư nợ cho vay năng lượng tái tạo mới đạt 9.500 tỷ đồng, đến giữa năm 2025, con số này đã tăng vọt lên gần 290.000 tỷ đồng, phản ánh sự ưu tiên rõ nét của hệ thống ngân hàng đối với chuyển đổi năng lượng.

Vệt Nam cần nguồn vốn đầu tư bổ sung lên tới 8 - 10 tỷ USD/năm cho năng lượng tái tạo. Ảnh: OCB

“Đòn bẩy” tín dụng cho nội lực và hội nhập

Song hành với năng lượng, tín dụng cho công nghiệp hỗ trợ đang nổi lên như một trụ cột quan trọng khác của tăng trưởng. Đến cuối tháng 8/2025, dư nợ tín dụng dành cho lĩnh vực này đạt hơn 574.650 tỷ đồng, tăng 23,14% so với cuối năm 2024. Con số này phản ánh quy mô dòng vốn, đồng thời cho thấy kỳ vọng lớn đặt vào công nghiệp hỗ trợ như “chìa khóa” nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt.

Thực tế, dù có hơn 6.000 doanh nghiệp tham gia, công nghiệp hỗ trợ trong nước mới chỉ đáp ứng khoảng 10% nhu cầu linh kiện, phụ tùng của nền sản xuất. Dư địa tăng trưởng tín dụng cho công nghiệp hỗ trợ còn rất lớn, do đó đòi hỏi cơ chế tín dụng linh hoạt hơn. Cùng với đó, Nghị định số 205/2025/NĐ-CP đã mở rộng đáng kể các ưu đãi về vốn, đất đai và công nghệ, đồng thời, giao Ngân hàng Nhà nước nhiệm vụ chỉ đạo thiết kế các gói tín dụng riêng cho lĩnh vực này. Gói tín dụng 500 nghìn tỷ đồng dành cho khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và hạ tầng chiến lược bắt đầu triển khai từ cuối năm 2025 là một ví dụ, cho thấy tín dụng đang được sử dụng như một công cụ chính sách chủ động.

Trong lĩnh vực thương mại, đặc biệt là xuất nhập khẩu, “vó ngựa” tín dụng càng thể hiện rõ tính thời điểm. Những tháng cuối năm 2025, khi kim ngạch xuất nhập khẩu duy trì ở mức cao, nhu cầu vốn ngắn hạn tăng mạnh để phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa. Các ngân hàng đã tăng tốc giải ngân, linh hoạt lãi suất và cung cấp thêm các dịch vụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá, giúp doanh nghiệp giữ nhịp đơn hàng trong bối cảnh thị trường quốc tế biến động.

Điều đáng chú ý, tín dụng cho thương mại không chỉ dừng ở “bơm vốn”, mà gắn với yêu cầu nâng cấp tiêu chuẩn, thích ứng với các Hiệp định thương mại tự do và các cơ chế mới như điều chỉnh biên giới carbon. Khi đó, tín dụng trở thành cầu nối giữa mục tiêu tăng trưởng trước mắt và năng lực cạnh tranh dài hạn.

TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia, kinh tế trưởng BIDV: Tín dụng cho các lĩnh vực của ngành Công Thương cần được định hướng theo các cam kết hội nhập và yêu cầu mới của thị trường toàn cầu. Dòng vốn nếu gắn với tiêu chuẩn xanh, chuỗi giá trị và các Hiệp định thương mại tự do sẽ trở thành lực đẩy nâng cấp năng lực sản xuất và xuất khẩu của doanh nghiệp.

 

Ngân Thương