Đóng

Tổng công ty Điện lực - TKV: Vững nguồn cung, chủ động cho giai đoạn mới

Với gần 8,8 tỷ kWh điện sản xuất trong 10 tháng năm 2026, Tổng công ty Điện lực - TKV tiếp tục củng cố năng lực vận hành, chuẩn bị nguồn lực đáp ứng yêu cầu cung ứng điện giai đoạn 2027-2030.

Đóng góp nguồn điện ổn định cho nền kinh tế

Với hệ thống 7 nhà máy nhiệt điện và thủy điện, tổng công suất 1.735 MW, Tổng công ty Điện lực TKV - CTCP đang góp phần đáp ứng nhu cầu điện cho sản xuất và đời sống. Là thành viên của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), Tổng công ty có lợi thế để liên kết giữa khai thác, cung ứng than và sản xuất điện trong cùng tập đoàn, đây là nền tảng để Tổng công ty chủ động phối hợp bảo đảm nhiên liệu, duy trì hoạt động của các nhà máy.

Toàn cảnh Nhà máy Thủy điện Đồng Nai 5 - đơn vị thành viên của Tổng công ty Điện lực TKV

Ông Bùi Minh Tân - Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực -TKV chia sẻ: Trong 10 tháng năm 2026, sản lượng điện sản xuất của Tổng công ty ước đạt gần 8,8 tỷ kWh, bằng 83,2% kế hoạch năm và tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này thể hiện nỗ lực duy trì sản xuất, nâng cao hiệu quả vận hành trong điều kiện các nhà máy còn chịu áp lực về kỹ thuật và chi phí.

Thành lập tháng 11/2009, Tổng công ty Điện lực - TKV từng bước lớn mạnh cùng quá trình đầu tư các dự án điện của Tập đoàn. Sau gần 17 năm, Tổng công ty tiếp tục đảm nhận trọng trách bảo đảm các nhà máy vận hành an toàn, ổn định, sẵn sàng đáp ứng huy động của hệ thống điện quốc gia, đồng thời kiểm soát chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

Để giữ vững khả năng cung ứng điện, Tổng công ty chú trọng sửa chữa, phục hồi thiết bị, nâng cao độ tin cậy của các tổ máy. Thực tế tại Công ty Nhiệt điện Cẩm Phả cho thấy việc đầu tư chiều sâu đang được triển khai bằng những hạng mục cụ thể.

Giai đoạn 2024-2026, Tổng công ty đã triển khai sửa chữa lớn 64 hạng mục thiết bị, tổng giá trị hơn 700 tỷ đồng; thay thế hàng nghìn mét ống sinh hơi, ống bộ hâm tại hai lò hơi, trong đó có 338 giàn ống bộ hâm. Năm 2024, tổ máy S2 được đại tu, phục hồi tuabin - máy phát, đưa khả năng vận hành tiệm cận công suất thiết kế.

“Những hạng mục này trực tiếp góp phần khắc phục tình trạng xuống cấp của thiết bị, củng cố năng lực vận hành và tạo điều kiện để nhà máy duy trì sản xuất. Đây cũng là hướng đi quan trọng của Tổng công ty trong giai đoạn tới đó là khai thác hiệu quả hơn công suất hiện có thông qua nâng chất lượng bảo dưỡng, sửa chữa và quản lý kỹ thuật”, ông Bùi Minh Tân khẳng định.

Chuẩn bị nguồn lực cho giai đoạn 2027-2030

Trên cơ sở đánh giá kết quả sản xuất và dự báo nhu cầu những năm tới, Tổng công ty Điện lực - TKV đã xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh giai đoạn 2026-2030. Trọng tâm quản trị được chuyển từ giao chỉ tiêu sản lượng đơn thuần sang kiểm soát đồng thời sản lượng, chi phí, lợi nhuận và hiệu quả sản xuất.

Theo kế hoạch, năm 2027, khi Nhà máy Nhiệt điện Na Dương II công suất 110 MW được đưa vào vận hành, tổng công suất quản lý của Tổng công ty sẽ tăng lên 1.845 MW. Sản lượng điện sản xuất năm 2027 dự kiến đạt gần 10,75 tỷ kWh và tăng lên gần 12 tỷ kWh vào năm 2030; doanh thu tương ứng dự kiến đạt 13.771 tỷ đồng và 15.177 tỷ đồng.

Toàn cảnh Nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả, đơn vị thành viên của Tổng công ty Điện lực -TKV

Tổng sản lượng điện dự kiến cả giai đoạn 2026-2030 khoảng 52,672 tỷ kWh. Ông Bùi Minh Tân cho biết: “Kế hoạch từng năm đã được chúng tôi được xây dựng theo khả năng vận hành của các nhà máy, lịch sửa chữa, điều kiện thị trường và tiến độ đưa Na Dương II vào hoạt động”.

Để thực hiện các mục tiêu này, Tổng công ty đặt yêu cầu nâng độ khả dụng của các tổ máy lên ít nhất 85%, khống chế số sự cố không quá 2 sự cố/tổ máy/năm. Đồng thời, đơn vị phấn đấu giảm tối thiểu 5% suất hao nhiên liệu than bình quân trong giai đoạn 2027-2030.

Các chỉ tiêu trên gắn trực tiếp với khả năng sẵn sàng phát điện và hiệu quả sản xuất. Tổ máy vận hành tin cậy hơn sẽ tăng khả năng đáp ứng huy động; giảm tiêu hao nhiên liệu, giảm điện tự dùng sẽ góp phần tiết kiệm chi phí và nâng sức cạnh tranh của các nhà máy.

Cùng với đó, Tổng công ty tập trung đầu tư, cải tạo thiết bị và hoàn thiện các dự án xử lý khí thải, đáp ứng yêu cầu môi trường trong giai đoạn tới. Tiến độ, chất lượng và hiệu quả của từng hạng mục đầu tư, sửa chữa vì vậy có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện kế hoạch dài hạn.

Chuyển đổi số cũng đang được triển khai để hỗ trợ quản trị. Trong năm 2026, phần mềm kế toán tài chính quản lý tập trung được vận hành thử nghiệm, dự kiến hoàn thành trong năm; phần mềm quản lý nhân sự tập trung đã được phê duyệt thiết kế và đang lập trình. Các nhiệm vụ tự động hóa, tin học hóa tiếp tục được định hướng gắn với nhu cầu thực tế của sản xuất, vận hành và điều hành doanh nghiệp.

Theo ông Bùi Minh Tân, đối với Tổng công ty, chuẩn bị cho giai đoạn 2027-2030 còn là bài toán phối hợp giữa nguồn nhiên liệu, năng lực thiết bị, kế hoạch sửa chữa và thị trường điện. Phát huy hiệu quả chuỗi than - điện được xác định là một nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh dài hạn.

Tổng công ty sẽ tăng cường phối hợp với các đơn vị trong Tập đoàn để cân đối đầu vào, tối ưu hóa vận hành và nâng hiệu quả các nhà máy. Việc bảo đảm nhiên liệu phải đi cùng chất lượng sửa chữa và khả năng sẵn sàng của tổ máy, qua đó duy trì sản xuất an toàn, ổn định.

Với quyết tâm nâng cao chất lượng tăng trưởng thông qua đầu tư có trọng điểm, đổi mới phương thức quản trị và gắn hiệu quả kinh tế với trách nhiệm môi trường, chiến lược phát triển của Tổng Công ty Điện lực - TKV đang được cụ thể hóa bằng những chuyển biến thực chất tại từng đơn vị, tạo nền tảng để thương hiệu điện lực TKV tiếp tục khẳng định vai trò trong hệ thống điện quốc gia.

Thu Hường