Đóng

Top 10 doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản hàng đầu Việt Nam năm 2025

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam đã có thống kê chi tiết 10 doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản lớn nhất Việt Nam năm 2025.

10 doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản lớn nhất Việt Nam

Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam ước đạt khoảng 11,3 tỷ USD, tiếp tục giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu của cả nước. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), dựa trên số liệu Hải quan Việt Nam, 10 doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản lớn nhất đạt kim ngạch khoảng 2,13 tỷ USD, chiếm 18,87% tổng giá trị xuất khẩu toàn ngành. Trong đó, có những cái tên quen thuộc trong ngành tôm và cá tra.

Đứng đầu bảng xếp hạng là Công ty Cổ phần Thủy sản Sóc Trăng (STAPIMEX) với giá trị xuất khẩu 309,8 triệu USD, tương đương 2,75% tổng kim ngạch thủy sản cả nước.

Xếp thứ hai là Công ty Cổ phần Tập đoàn thủy sản Minh Phú (Minh Phú Seafood Corp) đạt 282,7 triệu USD (2,51%).

Tiếp theo là Công ty Cổ phần Thủy sản Minh Phú - Hậu Giang với 259,4 triệu USD (2,30%). Riêng 3 doanh nghiệp dẫn đầu đã đóng góp 7,56% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2025.

Top 10 doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản lớn nhất Việt Nam năm 2025.

Ở vị trí thứ tư, Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn (Vĩnh Hoàn Corp) ghi nhận kim ngạch xuất khẩu 249 triệu USD, tiếp tục giữ vai trò doanh nghiệp chủ lực trong lĩnh vực cá tra.

Các vị trí tiếp theo lần lượt thuộc về Công ty Cổ phần Phát Lợi với 215,6 triệu USD, Công ty Cổ phần Chế biến và Dịch vụ xuất khẩu thủy sản Cà Mau (CASES) đạt 198,5 triệu USD, Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu thủy sản An Giang (FIMEX VN) với 194,1 triệu USD và Công ty Cổ phần Nam Việt (NAVICO) đạt 153,7 triệu USD.

Hai doanh nghiệp khép lại Top 10 là Công ty Cổ phần Thủy sản An Hải với kim ngạch 136,2 triệu USD và Công ty TNHH Tài Kim Anh đạt 128,9 triệu USD.

Linh hoạt thị trường, tận dụng FTA: “Chìa khóa” giúp thủy sản Việt Nam vượt sóng năm 2025

Theo VASEP, sự khởi sắc của xuất khẩu thủy sản năm 2025 phản ánh rõ khả năng thích ứng linh hoạt và nhạy bén của cộng đồng doanh nghiệp trước những biến động của thị trường quốc tế. Việc tận dụng hiệu quả Các hiệp định thương mại tự do (FTA), cùng với chiến lược dịch chuyển thị trường kịp thời, đã giúp ngành thủy sản giữ vững đà tăng trưởng trong bối cảnh không ít thách thức. Khi thị trường Hoa Kỳ bắt đầu gặp khó do chính sách thuế đối ứng áp dụng từ tháng 8/2025, nhiều doanh nghiệp đã nhanh chóng tái cơ cấu thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu sang khối CPTPP với kim ngạch trên 3 tỷ USD và Trung Quốc đạt khoảng 2,4 tỷ USD, qua đó bù đắp hiệu quả sự sụt giảm từ thị trường truyền thống.

Tôm vẫn là mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Tuy nhiên, bức tranh xuất khẩu cuối năm cũng cho thấy những áp lực ngày càng rõ nét từ các rào cản kỹ thuật. Kết quả quý IV cho thấy, nhóm hải sản khai thác chịu tác động đáng kể từ thẻ vàng IUU và các quy định liên quan đến bảo vệ động vật biển theo Đạo luật Bảo vệ Động vật có vú ở Biển (MMPA). Những yêu cầu ngày càng khắt khe này không chỉ làm gia tăng chi phí tuân thủ mà còn đặt ra thách thức lớn đối với khả năng duy trì tăng trưởng ổn định trong thời gian tới.

Trong bối cảnh đó, triển vọng năm 2026 của ngành thủy sản Việt Nam sẽ phụ thuộc nhiều vào mức độ minh bạch hóa chuỗi cung ứng, khả năng kiểm soát và tối ưu chi phí sản xuất, cũng như sự chủ động thích ứng với các chính sách thương mại quốc tế biến động khó lường.

Với nền tảng tích lũy từ năm 2025, cùng kinh nghiệm ứng phó ngày càng tốt của doanh nghiệp, ngành thủy sản Việt Nam vẫn có cơ sở để hướng tới mục tiêu tăng trưởng gắn với phát triển bền vững, dù phải đối mặt với những thách thức mới từ thị trường Hoa Kỳ và các yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt về chứng chỉ xanh trong thời gian tới.

Theo thống kê, quý IV/2025, xuất khẩu thủy sản đạt trên 3,1 tỷ USD, tăng 10,3% so với cùng kỳ; riêng tháng 12 đạt hơn 954 triệu USD, tăng 9,2%. Động lực tăng trưởng đến từ nhu cầu lễ hội tại châu Á, đặc biệt Trung Quốc và Hồng Kông (Trung Quốc) tăng 22,9% trong quý cuối năm.

Tăng trưởng quý IV chủ yếu nhờ tôm đạt hơn 1,2 tỷ USD, tăng 16,8%, cùng mực, bạch tuộc và cua, ghẹ và giáp xác khác tăng trên 20%. Ngược lại, cá ngừ giảm 10,8% do áp lực rào cản kỹ thuật, thẻ vàng về khai thác hải sản bất hợp pháp và khó khăn nguồn nguyên liệu.

Diệu Linh