Đóng

TS. Lê Trung Kiên: Quy định mới giúp truy xuất hóa chất xuyên suốt vòng đời

TS. Lê Trung Kiên cho rằng, quy định mới là cơ sở hình thành khả năng truy xuất “đường đi” hóa chất từ nhà sản xuất, nhập khẩu đến người sử dụng cuối cùng.

Siết quản lý hóa chất theo mức độ rủi ro

Từ ngày 1/7/2026, nhiều quy định mới về quản lý hóa chất chính thức được áp dụng, đánh dấu bước chuyển đáng chú ý trong phương thức quản lý của Bộ Công Thương. Thay vì tập trung vào tiền kiểm và quản lý theo từng khâu, chính sách mới hướng tới quản lý toàn bộ vòng đời hóa chất, tăng cường hậu kiểm, số hóa dữ liệu và phân loại theo mức độ rủi ro.

Cùng với đó, việc số hóa dữ liệu và truy xuất thông tin hóa chất được kỳ vọng nâng cao hiệu quả giám sát, kiểm soát hàng giả, hàng kém chất lượng và phòng ngừa rủi ro trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng hóa chất. Để làm rõ những tác động từ các quy định mới, phóng viên Báo Công Thương có cuộc trao đổi với TS. Lê Trung Kiên, chuyên trách phòng chống côn trùng truyền bệnh và quản lý hóa chất, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương.

TS. Lê Trung Kiên, chuyên trách phòng chống côn trùng truyền bệnh và quản lý hóa chất, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương.

- Ông đánh giá như thế nào về những điểm đổi mới trong các quy định mới của Bộ Công Thương về quản lý hóa chất? Đâu là thay đổi có tác động lớn nhất đối với doanh nghiệp?

TS. Lê Trung Kiên: Theo tôi, điểm đổi mới quan trọng nhất của hệ thống pháp luật quản lý hóa chất của Bộ Công Thương từ năm 2026 là thực hiện đúng chỉ đạo của Chính phủ trong chuyển mạnh từ cách quản lý theo từng khâu sang quản lý hóa chất theo toàn bộ vòng đời. Đồng thời, quy định mới sẽ đẩy mạnh số hóa dữ liệu và phân loại quản lý dựa trên mức độ rủi ro.

Luật Hóa chất số 69/2025/QH15 đã mở rộng phạm vi quản lý từ sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, vận chuyển, tồn trữ, sử dụng đến xử lý chất thải hóa chất. Điều này là cách tiếp cận được quy định xuyên suốt tại Chương III và Chương VI của Luật. Một thay đổi có tác động rất lớn đến doanh nghiệp là quản lý dựa trên phân loại hóa chất và mức độ rủi ro, thay vì áp dụng một cách tiếp cận gần như đồng nhất cho nhiều nhóm hóa chất. Luật phân định hóa chất cấm, hóa chất cần kiểm soát đặc biệt và hóa chất có điều kiện, với yêu cầu quản lý tương ứng. Nghị định 25/2026/NĐ-CP và Nghị định 26/2026/NĐ-CP đã cụ thể hóa cơ chế này.

Đối với doanh nghiệp, điều này vừa giảm thủ tục hành chính đối với hoạt động có rủi ro thấp, vừa đặt yêu cầu trách nhiệm cao hơn đối với doanh nghiệp kinh doanh, sử dụng hóa chất nguy hiểm. Doanh nghiệp vừa cần “có giấy phép” vừa cần chứng minh được năng lực quản lý an toàn, thông tin hóa chất, cơ sở vật chất và khả năng kiểm soát rủi ro trong suốt quá trình hoạt động.

Truy xuất “đường đi” hóa chất đến người dùng

- Việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, cùng với quản lý trên nền tảng số và truy xuất toàn bộ vòng đời sản phẩm sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thị trường hóa chất như thế nào?

TS. Lê Trung Kiên: Tôi cho rằng đây là một bước chuyển rất quan trọng, bởi quản lý hóa chất hiệu quả không thể chỉ dừng ở việc cấp phép trước khi doanh nghiệp hoạt động, mà phải theo dõi được hóa chất đang ở đâu, được sử dụng vào mục đích gì và có được quản lý an toàn hay không.

Luật Hóa chất 2025 đã xác lập Cơ sở dữ liệu chuyên ngành hóa chất là tập hợp dữ liệu về hóa chất, hoạt động hóa chất, hóa chất nguy hiểm trong sản phẩm, hàng hóa và thông tin về an toàn, an ninh hóa chất.

Đáng chú ý, đối với hóa chất cần kiểm soát đặc biệt, khoản 4 Điều 11 và Điều 17 của Luật quy định việc kiểm soát mua bán, xác thực dữ liệu về tổ chức, cá nhân mua bán và công bố mục đích sử dụng. Đây chính là cơ sở để từng bước hình thành khả năng truy xuất “đường đi” của hóa chất từ nhà sản xuất, nhập khẩu đến người sử dụng cuối cùng.

Về quản lý nhà nước, cách làm này cho phép cơ quan quản lý chuyển nguồn lực từ kiểm tra dàn trải sang giám sát dựa trên dữ liệu và rủi ro, tập trung vào doanh nghiệp, hóa chất và công đoạn có nguy cơ cao. Thực tế, Bộ Công Thương cũng đang tăng cường hậu kiểm đối với các đơn vị đã được cấp phép.

Tuy nhiên, để cơ chế này thực sự hiệu quả, điều kiện tiên quyết là cơ sở dữ liệu phải được kết nối, cập nhật kịp thời và có khả năng liên thông giữa các cơ quan quản lý.

- Theo ông, các quy định mới sẽ góp phần kiểm soát hóa chất kém chất lượng, hàng giả và nâng cao an toàn trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng hóa chất ra sao?

TS. Lê Trung Kiên: Tôi cho rằng tác động quan trọng nhất là chuyển trách nhiệm bảo đảm an toàn và chất lượng về đúng chủ thể tham gia chuỗi hóa chất, đồng thời tạo thêm công cụ để cơ quan quản lý phát hiện và xử lý vi phạm.

Điều 3 Luật Hóa chất 2025 đã bổ sung nhiều hành vi bị nghiêm cấm, trong đó có hành vi làm giả, sửa chữa, tẩy xóa giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ về hóa chất; đồng thời nghiêm cấm cố ý cung cấp không đầy đủ, không kịp thời hoặc sai lệch thông tin về đặc tính nguy hiểm của hóa chất và sự cố hóa chất.

Luật cũng đặt yêu cầu quản lý thông tin hóa chất chặt chẽ hơn. Với hóa chất mới, Điều 20 quy định chỉ được đưa vào sử dụng, lưu thông trên thị trường sau khi đăng ký; Điều 22 tiếp tục yêu cầu cập nhật dữ liệu về quá trình hoạt động với hóa chất mới trong thời gian 5 năm để cơ quan quản lý đánh giá mức độ rủi ro.

Cục Hóa chất tăng cường hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc hóa chất. 

Đối với thị trường hóa chất diệt côn trùng dùng trong gia dụng và y tế, tôi cho rằng cần đặc biệt chú trọng tính đúng của hoạt chất, hàm lượng, dạng chế phẩm, nhãn, hướng dẫn sử dụng và các thông tin cảnh báo an toàn. Một sản phẩm có tên thương mại hoặc công dụng tương tự không đồng nghĩa với việc có cùng mức độ an toàn.

Do đó, hậu kiểm cần kết hợp giữa kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế và lấy mẫu phân tích. Khi dữ liệu được số hóa và truy xuất tốt, việc phát hiện sản phẩm bất thường, xác định nguồn gốc và trách nhiệm của từng khâu trong chuỗi cung ứng sẽ nhanh và chính xác hơn.

- Để các quy định mới thực sự phát huy hiệu quả trong thực tiễn, theo ông cần tiếp tục hoàn thiện những cơ chế, chính sách hoặc giải pháp gì trong thời gian tới?

TS. Lê Trung Kiên: Theo tôi, trong thời gian tới cần tập trung vào bốn nhóm giải pháp.

Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện và vận hành hiệu quả Cơ sở dữ liệu chuyên ngành hóa chất, bảo đảm dữ liệu về sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh, vận chuyển, tồn trữ và sử dụng có thể kết nối, cập nhật và truy xuất theo chuỗi.

Thứ hai, phải xây dựng cơ chế hậu kiểm dựa trên đánh giá rủi ro, trong đó ưu tiên hóa chất nguy hiểm, hóa chất cần kiểm soát đặc biệt, cơ sở có lịch sử vi phạm và các sản phẩm có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng. Đây cũng phù hợp với định hướng của Luật Hóa chất mới về phân loại và quản lý theo mức độ nguy hiểm.

Thứ ba, cần tăng cường phối hợp giữa Bộ Công Thương và các bộ quản lý chuyên ngành. Đối với hóa chất được sử dụng trong thuốc, thực phẩm, mỹ phẩm, thuốc bảo vệ thực vật hay chế phẩm diệt côn trùng dùng trong gia dụng và y tế, tăng cường vai trò và trách nhiệm quản lý theo hóa chất, sản phẩm và mục đích sử dụng, tránh khoảng trống hoặc chồng chéo quản lý.

Thứ tư, cần hỗ trợ doanh nghiệp chuyển từ tư duy “đáp ứng thủ tục” sang quản trị rủi ro hóa chất. Các doanh nghiệp cần chủ động xây dựng hệ thống quản lý từ nguyên liệu đầu vào, hồ sơ an toàn, nhãn, kho chứa, vận chuyển, sử dụng đến xử lý chất thải.

Xin cảm ơn những chia sẻ của ông!

TS. Lê Trung Kiên cho rằng, hiệu quả cuối cùng của Luật Hóa chất 2025 không dừng lại ở việc đo bằng số lượng giấy phép được cấp hay số cuộc kiểm tra được thực hiện, mà cần phải được đo bằng khả năng phòng ngừa sự cố, kiểm soát hóa chất nguy hiểm và bảo vệ sức khỏe người dân, môi trường trong thực tế.

Phương Hà - Thanh Hương