Đóng

TS. Mạc Quốc Anh: Đại hội XIV là bệ phóng cho khát vọng Việt Nam năm 2045

Theo TS. Mạc Quốc Anh, Đại hội XIV chuyển sang tư duy phát triển, lấy thể chế và thực thi làm nền tảng để Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Trong dòng chảy gần 40 năm đổi mới và hội nhập, Việt Nam đang đứng trước một ngưỡng cửa phát triển mới với những thời cơ và thách thức đan xen. Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc mang tính bước ngoặt, không chỉ định hình tầm nhìn chiến lược đến năm 2030, 2045 mà còn xác lập những quyết sách có tính “bệ phóng” về thể chế, đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và đặc biệt đề cao khâu tổ chức thực hiện.

Xung quanh những nội dung này, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với TS. Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội (HANOISME).

Theo TS. Mạc Quốc Anh: "Trở thành nước phát triển, thu nhập cao không chỉ là những cột mốc kinh tế, mà còn là tuyên ngôn chính trị về vị thế quốc gia". Ảnh: Thanh Thảo.

Từ “tư duy tăng trưởng” đến “tư duy phát triển”: Nâng cấp triết lý quản trị quốc gia

- Thưa TS. Mạc Quốc Anh, Đại hội XIV được đánh giá có nhiều điểm mới mang tính đột phá, đặc biệt là đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và đề cao khâu tổ chức thực hiện. Theo ông, những đổi mới về tư duy này có ý nghĩa như thế nào đối với việc hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước?

TS. Mạc Quốc Anh: Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra trong một bối cảnh đặc biệt: Đất nước đã đi qua gần 40 năm đổi mới, hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu nhưng đồng thời cũng đứng trước những thách thức mới của kỷ nguyên cạnh tranh công nghệ, chuyển đổi xanh và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu. Hai mục tiêu chiến lược 100 năm đến 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao không chỉ là những cột mốc kinh tế, mà còn là tuyên ngôn chính trị về vị thế quốc gia.

Điểm đột phá lớn nhất của Đại hội XIV, theo tôi, nằm ở sự chuyển dịch từ “tư duy tăng trưởng” sang “tư duy phát triển”. Tăng trưởng thiên về lượng; phát triển đặt trọng tâm vào chất, vào cấu trúc, vào nền tảng thể chế và năng lực nội sinh. Tư duy mới không còn xem GDP là thước đo duy nhất, mà nhấn mạnh đồng thời các yếu tố: Năng suất lao động, đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực, khả năng tự chủ công nghệ và sức chống chịu của nền kinh tế.

Về mặt chính trị học, đây là sự nâng cấp trong triết lý quản trị quốc gia. Nhà nước không chỉ đóng vai trò điều tiết mà còn kiến tạo phát triển, thiết kế “luật chơi” minh bạch, ổn định và dài hạn để khơi thông các nguồn lực xã hội. Tư duy đề cao khâu tổ chức thực hiện thể hiện bước chuyển từ “ý chí chính sách” sang “kỷ luật thực thi”. Trong nhiều giai đoạn trước, điểm nghẽn của chúng ta không nằm ở thiếu chủ trương, mà ở phân mảnh trong triển khai, chậm cụ thể hóa và thiếu cơ chế giám sát hiệu quả. Đại hội XIV đặt trọng tâm vào trách nhiệm giải trình, phân cấp - phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực, coi sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là thước đo.

Về kinh tế học phát triển, điều này có ý nghĩa sống còn. Không một quốc gia nào đạt ngưỡng thu nhập cao nếu không cải cách mạnh mẽ thể chế. Các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đều cho thấy chất lượng thể chế quyết định hơn 30 - 40% chênh lệch thu nhập giữa các quốc gia. Việt Nam nếu muốn bứt phá khỏi bẫy thu nhập trung bình phải chuyển từ mô hình dựa vào lao động giá rẻ và vốn đầu tư sang mô hình dựa vào tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Tư duy mới của Đại hội XIV còn thể hiện ở việc nhìn nhận khu vực kinh tế tư nhân như một động lực quan trọng của nền kinh tế. Đây là sự tiếp nối và nâng tầm tinh thần của Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Khi khu vực tư nhân được đặt đúng vị thế, được bảo đảm quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và tiếp cận nguồn lực công bằng, thì khát vọng 2045 mới có nền tảng thực tiễn.

Đặc biệt, việc nhấn mạnh khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh như những trụ cột chiến lược cho thấy tư duy phát triển đã tiệm cận với chuẩn mực của các quốc gia tiên tiến. Không thể trở thành nước phát triển nếu chúng ta chỉ là công xưởng gia công; chúng ta phải trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, có doanh nghiệp nội địa đủ mạnh để dẫn dắt.

Tóm lại, đổi mới tư duy tại Đại hội XIV không chỉ là điều chỉnh kỹ thuật, mà là bước chuyển căn bản trong triết lý phát triển: Từ quản lý sang kiến tạo, từ số lượng sang chất lượng, từ ngắn hạn sang dài hạn, từ tăng trưởng dựa vào lợi thế tĩnh sang phát triển dựa vào năng lực động. Nếu được triển khai nhất quán, đây chính là “bệ phóng thể chế” để Việt Nam tiến gần hơn đến mục tiêu năm 2045 - một quốc gia phát triển, hùng cường và thịnh vượng.

Chính sách công nghiệp - thương mại là đòn bẩy cấu trúc lại nền sản xuất quốc gia

- Đại hội XIV nhấn mạnh việc xác lập các quyết sách mang tính “bệ phóng” để đạt mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Theo ông, trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại, đâu là những chính sách đột phá cần ưu tiên để nâng cao năng lực sản xuất, phát triển doanh nghiệp nội địa và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu?

TS. Mạc Quốc Anh:Trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại, nếu coi mục tiêu năm 2045 là đích đến, thì giai đoạn 2026 - 2035 chính là thời kỳ quyết định cấu trúc nền sản xuất quốc gia. Tôi cho rằng có ba nhóm chính sách đột phá cần ưu tiên.

Thứ nhất, chính sách công nghiệp chủ động và có chọn lọc. Việt Nam không thể dàn trải nguồn lực. Cần xác định một số ngành mũi nhọn có lợi thế và khả năng lan tỏa cao như công nghiệp chế biến sâu, công nghiệp hỗ trợ, điện tử - bán dẫn, công nghệ số, năng lượng tái tạo và logistics. Nhà nước cần thiết kế các gói chính sách tích hợp: ưu đãi thuế gắn với cam kết chuyển giao công nghệ, yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa, hỗ trợ R&D và phát triển cụm liên kết ngành. Không chỉ thu hút FDI, mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt tham gia vào mạng lưới cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia.

Thứ hai, phát triển doanh nghiệp nội địa đủ tầm. Hiện nay, hơn 97% doanh nghiệp Việt Nam là nhỏ và vừa; phần lớn ở vị trí thấp trong chuỗi giá trị. Nếu không nâng cao năng lực quản trị, tiêu chuẩn chất lượng và khả năng tài chính, họ khó có thể tham gia sâu vào chuỗi toàn cầu. Cần triển khai mạnh mẽ các chương trình nâng cao năng suất theo chuẩn quốc tế, hỗ trợ chuyển đổi số, hỗ trợ xanh hóa sản xuất để đáp ứng các yêu cầu như cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của EU. Bộ Công Thương có thể đóng vai trò điều phối xây dựng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng quốc gia, kết nối trực tiếp với các nhà mua hàng quốc tế.

Thứ ba, cải cách thể chế thương mại theo hướng minh bạch và dự báo được. Việt Nam đã ký kết nhiều FTA thế hệ mới như Hiệp định CPTPP và Hiệp định EVFTA. Tuy nhiên, việc tận dụng còn hạn chế do thiếu thông tin và năng lực tuân thủ. Cần đơn giản hóa thủ tục xuất nhập khẩu, số hóa toàn bộ quy trình hải quan, giảm chi phí logistics hiện còn chiếm tỷ lệ cao so với GDP. Đồng thời, phải chủ động xây dựng hàng rào kỹ thuật hợp lý để bảo vệ sản xuất trong nước trước cạnh tranh không lành mạnh.

Về dài hạn, chính sách công nghiệp và thương mại phải gắn với chiến lược khoa học - công nghệ quốc gia. Nếu doanh nghiệp Việt chỉ tham gia khâu lắp ráp, lợi nhuận sẽ rất thấp. Chúng ta phải đầu tư mạnh cho thiết kế, thương hiệu và phân phối. Đây là những khâu có giá trị gia tăng cao nhất trong “đường cong nụ cười”.

Tôi tin rằng với một hệ sinh thái chính sách đồng bộ từ tín dụng ưu đãi, quỹ đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực kỹ thuật cao đến cải cách hành chính quyết liệt, lĩnh vực công nghiệp và thương mại có thể trở thành trụ cột đưa Việt Nam bứt phá. Khi doanh nghiệp nội địa đủ mạnh, đủ năng lực cạnh tranh quốc tế, thì mục tiêu năm 2045 không còn là khát vọng xa xôi, mà sẽ trở thành lộ trình khả thi dựa trên nền tảng sản xuất hiện đại và hội nhập sâu rộng.

Rút ngắn “độ trễ chính sách”: Từ nghị quyết đến hành động thực chất

Khi ngành Công Thương chuyển từ vai trò quản lý đơn thuần sang vai trò dẫn dắt đổi mới và kết nối hệ sinh thái sản xuất, nền tảng tăng trưởng của Việt Nam sẽ được củng cố vững chắc. Ảnh: Thanh Hương.

- Đại hội đề cao tính hành động và hiệu quả tổ chức thực hiện. Từ góc nhìn cộng đồng doanh nghiệp, theo ông, cần làm gì để chủ trương, nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống, tránh tình trạng “độ trễ chính sách” và tạo niềm tin cho khu vực tư nhân?

TS. Mạc Quốc Anh: Tính hành động mà Đại hội nhấn mạnh, theo tôi, chính là thước đo năng lực quản trị quốc gia trong giai đoạn phát triển mới. Từ góc nhìn cộng đồng doanh nghiệp, “độ trễ chính sách” không chỉ là vấn đề kỹ thuật hành chính, mà là vấn đề niềm tin. Khi nghị quyết ban hành nhưng chậm được thể chế hóa thành luật, nghị định, thông tư cụ thể hoặc khi thực thi không thống nhất giữa các địa phương, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với chi phí cơ hội rất lớn và tâm lý chờ đợi, phòng thủ thay vì chủ động đầu tư.

Thứ nhất, để khắc phục tình trạng này, trước hết cần thiết lập cơ chế chuyển hóa nghị quyết thành chương trình hành động có thời hạn rõ ràng, có đầu mối chịu trách nhiệm và có chỉ tiêu đo lường cụ thể. Mỗi chủ trương lớn phải đi kèm lộ trình thực thi theo quý, theo năm, thay vì chỉ dừng ở các kế hoạch khung. Trong khoa học chính sách công, người ta gọi đây là “quản trị theo kết quả” (result-based management), tức là đánh giá hiệu quả dựa trên đầu ra và tác động thực tế chứ không chỉ dựa trên tiến độ văn bản.

Thứ hai, cần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình. Khi quyền quyết định được trao nhiều hơn cho địa phương và cơ quan thực thi, quá trình xử lý thủ tục sẽ linh hoạt hơn. Tuy nhiên, phân quyền phải đi kèm cơ chế giám sát độc lập và minh bạch dữ liệu. Ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý hành chính từ cấp phép đầu tư, đăng ký kinh doanh, thông quan hàng hóa đến giải quyết khiếu nại sẽ giúp giảm tiếp xúc trực tiếp, giảm rủi ro nhũng nhiễu và rút ngắn thời gian xử lý.

Thứ ba, cần thiết lập cơ chế đối thoại chính sách thường xuyên, thực chất giữa cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp. Các hiệp hội như Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội có thể đóng vai trò cầu nối, phản ánh vướng mắc từ thực tiễn sản xuất - kinh doanh. Khi doanh nghiệp được tham gia góp ý ngay từ khâu xây dựng chính sách, khả năng chồng chéo, bất cập sẽ giảm đáng kể. Đồng thời, việc phản hồi công khai về tiến độ xử lý kiến nghị sẽ tạo cảm giác được lắng nghe và đồng hành.

Thứ tư, phải kiên quyết loại bỏ tư duy “an toàn hành chính”. Cán bộ thực thi nếu chỉ ưu tiên tránh rủi ro cá nhân sẽ dẫn đến trì hoãn quyết định, đẩy trách nhiệm lên cấp trên. Muốn thay đổi điều này, cần có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đây là yếu tố con người mà Đại hội đặc biệt đề cao.

Cuối cùng, niềm tin của khu vực tư nhân phụ thuộc vào tính nhất quán và ổn định của môi trường pháp lý. Doanh nghiệp có thể chấp nhận khó khăn, nhưng không thể chấp nhận sự bất định kéo dài. Vì vậy, mọi điều chỉnh chính sách cần có thời gian chuyển tiếp hợp lý, thông tin minh bạch và dự báo được.

Nếu chúng ta thực hiện đồng bộ các giải pháp trên từ quản trị theo kết quả, chuyển đổi số hành chính, tăng cường đối thoại đến cải cách đội ngũ thì chủ trương, nghị quyết sẽ không còn nằm trên giấy, mà trở thành động lực thực sự cho sản xuất, đầu tư và đổi mới sáng tạo. Khi đó, khu vực tư nhân sẽ không chỉ tin tưởng, mà còn chủ động dấn thân, đóng góp vào hành trình phát triển quốc gia.

Ngành Công Thương trong kỷ nguyên số và xanh: Từ quản lý sang dẫn dắt hệ sinh thái

- Trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững, theo ông, ngành Công Thương cần đóng vai trò như thế nào trong việc thúc đẩy đổi mới công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ, thương mại điện tử và kinh tế tuần hoàn, qua đó tạo nền tảng tăng trưởng dài hạn?

TS. Mạc Quốc Anh: Trong cấu trúc nền kinh tế Việt Nam, ngành Công Thương giữ vị trí trung tâm của trục “sản xuất - phân phối - xuất khẩu”. Vì vậy, vai trò của ngành không chỉ là quản lý nhà nước về công nghiệp và thương mại, mà phải là “kiến trúc sư chiến lược” cho quá trình tái cấu trúc sản xuất trong kỷ nguyên số và xanh.

Trước hết, về đổi mới công nghệ, ngành cần chủ động thiết kế các chương trình hỗ trợ chuyển đổi số cho doanh nghiệp công nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc ứng dụng tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, quản trị dữ liệu lớn không còn là lựa chọn, mà là điều kiện sống còn để nâng cao năng suất. Bộ Công Thương có thể phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo ngành, hỗ trợ doanh nghiệp thử nghiệm công nghệ mới với chi phí thấp.

Thứ hai, phát triển công nghiệp hỗ trợ phải trở thành ưu tiên chiến lược. Hiện nay, tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều ngành vẫn còn thấp. Nếu không nâng cao năng lực sản xuất linh kiện, vật liệu và dịch vụ kỹ thuật trong nước, chúng ta sẽ tiếp tục phụ thuộc vào nhập khẩu và khó nâng cao giá trị gia tăng. Ngành Công Thương cần xây dựng bản đồ chuỗi cung ứng quốc gia, xác định rõ những mắt xích doanh nghiệp Việt có thể tham gia, đồng thời thiết kế chính sách tín dụng, đào tạo và tiêu chuẩn hóa để nâng cấp họ.

Thứ ba, thương mại điện tử và kinh tế số phải được xem là hạ tầng mới của thương mại quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu hóa số, doanh nghiệp có thể tiếp cận thị trường quốc tế thông qua nền tảng trực tuyến mà không cần đầu tư lớn vào hệ thống phân phối truyền thống. Tuy nhiên, để tận dụng cơ hội này, cần hoàn thiện khung pháp lý về giao dịch điện tử, bảo vệ dữ liệu và an ninh mạng; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ tham gia sàn thương mại điện tử xuyên biên giới.

Thứ tư, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi xanh là điều kiện tiên quyết để duy trì tăng trưởng dài hạn. Các cơ chế như định giá carbon, tiêu chuẩn môi trường và trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất đang trở thành xu thế toàn cầu. Ngành Công Thương cần ban hành lộ trình rõ ràng để doanh nghiệp chuẩn bị, đồng thời hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho quá trình chuyển đổi công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng.

Quan trọng hơn, tất cả các trụ cột trên phải được tích hợp trong một chiến lược công nghiệp - thương mại thống nhất, gắn với mục tiêu năm 2045. Khi ngành Công Thương chuyển từ vai trò quản lý đơn thuần sang vai trò dẫn dắt đổi mới và kết nối hệ sinh thái sản xuất, thì nền tảng tăng trưởng của Việt Nam sẽ được củng cố vững chắc. Đây không chỉ là nhiệm vụ của một ngành, mà là động lực trung tâm để hiện thực hóa khát vọng phát triển bền vững và thịnh vượng lâu dài của đất nước.

Trong kỷ nguyên mới, doanh nhân Việt Nam cần chuyển từ tư duy “kinh doanh cơ hội” sang “kinh doanh chiến lược”, từ cạnh tranh bằng chi phí thấp sang cạnh tranh bằng chất lượng, thương hiệu và đổi mới sáng tạo. Họ phải là những người tiên phong trong chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời xây dựng văn hóa doanh nghiệp dựa trên liêm chính và minh bạch. Một nền kinh tế muốn đạt trình độ phát triển cao không thể thiếu những doanh nghiệp nội địa đủ mạnh, đủ tầm khu vực và quốc tế.

Đặc biệt, trong mô hình phát triển hướng tới năm 2045, trí thức và doanh nhân không thể hoạt động tách rời. Cần hình thành hệ sinh thái hợp tác chặt chẽ giữa nghiên cứu - sản xuất - thị trường. Trí thức cung cấp nền tảng tri thức và công nghệ; doanh nhân thương mại hóa kết quả nghiên cứu; nhà nước đóng vai trò kiến tạo và điều tiết. Sự kết hợp này sẽ tạo ra sức bật lớn cho năng suất lao động quốc gia là yếu tố then chốt để vượt qua bẫy thu nhập trung bình.

Bên cạnh đó, cả trí thức và doanh nhân đều phải thấm nhuần tinh thần phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Phát triển không chỉ đo bằng GDP, mà còn bằng chất lượng sống, công bằng xã hội và sự bền vững môi trường. Doanh nghiệp phát triển nhưng không làm tổn hại đến hệ sinh thái; trí thức sáng tạo nhưng không xa rời thực tiễn đời sống, đó mới là nền tảng của một xã hội văn minh và hạnh phúc.

Tóm lại, để hiện thực hóa khát vọng năm 2045, Việt Nam cần phát huy tối đa nguồn lực con người, trong đó trí thức là lực lượng dẫn dắt tư duy và sáng tạo, doanh nhân là lực lượng tổ chức và hiện thực hóa giá trị. Khi hai lực lượng này được đặt trong một môi trường thể chế minh bạch, ổn định và khuyến khích đổi mới, họ sẽ trở thành trụ cột quan trọng đưa đất nước tiến tới mục tiêu giàu mạnh, phồn vinh và hạnh phúc bền vững.

- Trân trọng cảm ơn ông.

Đại hội XIV đánh dấu bước chuyển từ tư duy tăng trưởng sang tư duy phát triển dựa trên chất lượng, đổi mới sáng tạo và năng lực nội sinh. Khi thể chế được hoàn thiện theo hướng minh bạch, kiến tạo và đề cao kỷ luật thực thi, đó sẽ là “bệ phóng” quan trọng để khơi thông nguồn lực xã hội, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân.

Trong tiến trình đó, công nghiệp và thương mại giữ vai trò trụ cột tái cấu trúc nền sản xuất, nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Kết hợp giữa thể chế ổn định, trí tuệ của đội ngũ trí thức và tinh thần dấn thân của doanh nhân sẽ tạo động lực hiện thực hóa khát vọng Việt Nam phát triển, giàu mạnh và thịnh vượng vào năm 2045.

Thanh Thảo