Đóng

Từ một thời lửa đạn đến mái ấm bình yên

Trong chiến tranh, những mối tình của người lính âm thầm nảy nở, trở thành điểm tựa để họ vượt qua gian khổ; hòa bình lập lại, tình yêu ấy tiếp tục được gìn giữ, vun đắp.

Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng ký ức về một thời bom đạn vẫn in đậm trong tâm trí nhiều cựu chiến binh. Trong những năm tháng khốc liệt ấy, không chỉ có ý chí chiến đấu và tinh thần quả cảm, mà còn có những mối tình lặng lẽ, bền bỉ nảy nở giữa gian nan. Tình yêu đã trở thành điểm tựa để người lính vững vàng nơi tuyến lửa, và sau này, trở thành nền tảng cho những mái ấm bình yên giữa đời thường.

Yêu nhau giữa những ngày lửa đạn

Một buổi chiều lặng gió, tôi tìm đến căn nhà nhỏ trên đường Nguyễn Viết Xuân (phường Hội Phú, tỉnh Gia Lai), nơi vợ chồng cựu chiến binh Phạm Kim Xuân (sinh năm 1946) và bà Đỗ Thị Nở (sinh năm 1950) đã cùng nhau đi qua hơn nửa thế kỷ. Cánh cửa vừa mở, câu chuyện về một thời bom đạn như cũng theo đó ùa về, lặng lẽ, ấm áp như chính cách họ nắm tay nhau đi qua những năm tháng gian khó.

Vợ chồng cựu chiến binh Phạm Kim Xuân (sinh năm 1946) và bà Đỗ Thị Nở (sinh năm 1950) đã cùng nhau đi qua hơn nửa thế kỷ.

Trong góc nhà, chiếc cà mèn nhôm được đặt trang trọng, giản dị đến mức nếu không được nhắc, có lẽ chẳng ai nghĩ đó lại là kỷ vật của một mối tình nảy nở giữa chiến trường. “Hồi đó, ông ấy tặng tôi có vậy thôi… mà giữ đến giờ”, bà Nở cười hiền, ánh mắt như chùng xuống theo dòng ký ức.

Rót chén trà còn nghi ngút khói, cựu chiến binh Phạm Kim Xuân bắt đầu chậm rãi kể về mối duyên với người bạn đời đã gắn bó hơn nửa thế kỷ. Ánh mắt ông ánh lên sự ấm áp khi nhắc về những năm tháng cũ.

“Thời đó, chiến tranh ác liệt lắm, gặp nhau được vài lần đã là quý. Nhưng càng trong gian khó thì tình cảm lại càng sâu đậm”, ông Xuân chia sẻ.

Chiếc cà mèn nhôm là kỷ vật của một mối tình nảy nở giữa chiến trường.

Ông Phạm Kim Xuân quê ở Thanh Hóa. Ông nhập ngũ khi vừa tròn 19 tuổi, trực tiếp chiến đấu tại mặt trận B3 - Tây Nguyên. Sau những năm tháng cầm súng nơi tuyến lửa, ông được điều về công tác tại Ban Tham mưu Tỉnh đội Gia Lai. Còn bà Nở, người con gái Quảng Ngãi lại gắn bó với nhiệm vụ cứu chữa thương binh. Họ gặp nhau năm 1971 tại căn cứ Khu 10, giữa bộn bề công việc và hiểm nguy rình rập.

Sau ba năm tìm hiểu, họ quyết định gắn bó cuộc đời với nhau. Đám cưới được tổ chức ngay tại căn cứ cách mạng vào tháng 8/1974, với sự chứng kiến của đồng đội. Cô dâu, chú rể trong bộ quân phục giản dị, những món quà mộc mạc, nhưng chan chứa nghĩa tình.

Trong những thời khắc đối mặt với hiểm nguy, chính tình yêu và niềm tin đã giúp họ vững vàng vượt qua tất cả. Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục công tác trong quân đội, bà chuyển sang làm việc tại doanh nghiệp nhà nước. 

Trở về địa phương, ông Xuân vẫn tích cực tham gia công tác xã hội. Từ năm 2008 - 2022, ông đảm nhiệm vai trò Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường Hội Phú. Hiện ông là Trưởng ban liên lạc những người hoạt động cách mạng trong các thời kỳ kháng chiến và Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin phường Hội Phú. Dẫu ở cương vị nào, họ vẫn luôn đồng hành, sẻ chia, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc.

Vợ chồng ông Phạm Kim Xuân giữ rất nhiều hình ảnh kỷ niệm của một thời lửa đạn.

Bốn người con trưởng thành, có cuộc sống ổn định chính là “trái ngọt” của một tình yêu được thử thách qua năm tháng. Với các con, cha mẹ không chỉ là điểm tựa mà còn là tấm gương về nghĩa tình, sự thủy chung và trách nhiệm.

Người con trai út của ông bà, anh Phạm Kim Tân, chia sẻ: “Bố mẹ là tấm gương để chúng tôi noi theo. Không chỉ là tình yêu, mà còn là cách sống, cách đối nhân xử thế”.

Viết tiếp câu chuyện yêu thương

Ở một mái nhà khác, câu chuyện tình yêu của vợ chồng cựu chiến binh Nguyễn Thanh Lịch và Nguyễn Thị Sử (phường Quy Nhơn Nam) cũng bắt đầu từ những năm tháng chiến tranh khốc liệt ấy.

Ông Lịch quê ở xã Việt Thuận (huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình cũ). Năm 1964, ông viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Hơn 1 năm sau, ông được bố trí công tác tại Trung đoàn 10 (Quân khu 5), đóng quân ở huyện An Khê (tỉnh Gia Lai); sau đó được biên chế về Trung đoàn 1 (Quân khu 5), đóng quân tại tỉnh Quảng Ngãi. Từ năm 1965 đến những năm cao điểm của chiến tranh, ông đảm nhiệm nhiều vị trí, phụ trách công tác thông tin, tuyên truyền tại Ban Tuyên huấn Trung đoàn 22, Sư đoàn 3 Sao Vàng.

Còn bà Nguyễn Thị Sử quê xã Ân Tường (huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định cũ). Bà tham gia cách mạng từ năm 1968, khi mới 19 tuổi. Nhờ giọng hát hay, múa dẻo, bà được phân công vào Đội tuyên truyền thuộc Ban Tuyên huấn Trung đoàn 22, Sư đoàn 3 Sao Vàng.

Vợ chồng cựu chiến binh Nguyễn Thanh Lịch và Nguyễn Thị Sử hạnh phúc bên những người cháu của mình.

Họ gặp nhau trong một lần công tác. “Chỉ nói chuyện vài phút rồi ai về nhiệm vụ nấy, vậy mà nhớ mãi. “Tôi mến bà ấy vì nhanh nhẹn, lại hát bài chòi rất hay”, ông Lịch cười. 

Từ đó, giữa những chặng hành quân và những lần xa cách, họ giữ liên lạc bằng những lá thư tay. “Mỗi lá thư là một lần động viên, nhắc nhau giữ gìn sức khỏe, cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, vững tin vào ngày toàn thắng”, bà Sử xúc động. Tình cảm cứ thế lớn dần giữa những năm tháng chiến tranh.

Cuối năm 1969, khi tình cảm đã đủ đầy, đơn vị tổ chức cho họ một đám cưới giản dị giữa chiến trường, ở khu vực gần dốc Ba Nhà (tỉnh Quảng Ngãi). Không váy cưới, không tiệc lớn, chỉ có vài gói kẹo, điếu thuốc và những lời chúc mộc mạc của đồng đội. Nhưng với họ, đó là một trong những ký ức đẹp nhất của cuộc đời.

Bà Sử vẫn nhớ như in lời dặn của đồng chí Trưởng Tiểu ban Cán bộ: “Vui duyên mới nhưng không được quên nhiệm vụ”. Đây vừa là lời chúc, vừa là mệnh lệnh đối với người lính trong thời chiến.

Sau ngày cưới, bà Sử tiếp tục làm công tác liên lạc, giúp đỡ nuôi quân; còn ông Lịch công tác tại Trung đoàn 22, sau đó chuyển về Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Ngãi, rồi tỉnh Bình Định. Trước khi nghỉ hưu năm 1997, ông giữ chức Chủ nhiệm Chính trị Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Định cũ, mang quân hàm đại tá.

Rời quân ngũ, ông tiếp tục cống hiến cho cộng đồng với 17 năm tham gia Ban Chấp hành rồi giữ chức Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Bình Định (cũ). Hiện nay, ông là Trưởng ban liên lạc truyền thống Sư đoàn 3 Sao Vàng tại Bình Định, kết nối, chăm lo đời sống tinh thần cho đồng đội, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ.

Trong suốt hành trình ấy, bà Sử luôn là hậu phương vững chắc, lặng lẽ đồng hành, sẻ chia cùng chồng. Gia đình ông bà hôm nay là minh chứng sinh động cho sự tiếp nối truyền thống cách mạng: Ba người con trưởng thành, trong đó có hai người tiếp bước con đường quân ngũ; sáu người cháu nội, ngoại đều hiếu thuận, chăm ngoan. Đặc biệt, một cháu nội vừa nhập ngũ từ tháng 3/2026, đang học tập, huấn luyện tại Trung đoàn 739 (Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh).

Những câu chuyện tình yêu thời chiến không chỉ dừng lại ở ký ức, mà còn tiếp tục lan tỏa giá trị trong hiện tại. Đó là bài học về lòng thủy chung, về trách nhiệm và niềm tin, những điều đã giúp họ đi qua chiến tranh, để rồi cùng nhau xây dựng một mái ấm bình yên, bền chặt theo năm tháng.

Hôm nay, câu chuyện tình của họ được con cháu nhắc lại như một bài học sống. Cháu nội ông bà - chàng lính trẻ Nguyễn Hồng Phúc chia sẻ: “Những câu chuyện thời chiến, về tình yêu và trách nhiệm của ông bà trở thành bài học lịch sử, góp phần bồi đắp lý tưởng và lòng yêu nước cho chúng tôi. Chính những câu chuyện của ông bà đã thôi thúc tôi viết đơn tình nguyện nhập ngũ để tiếp nối truyền thống gia đình”.

Những chiếc hộp cơm cũ, những lá thư đã úa màu thời gian… vẫn lặng lẽ kể chuyện về một thời yêu giữa bom đạn. Để hôm nay, trong những mái nhà yên ấm, tình yêu ấy vẫn bền bỉ hiện hữu, như ngọn lửa nhỏ chưa bao giờ tắt, sưởi ấm qua bao thế hệ.

Bài và ảnh: Hiền Mai