Năng lực được tích lũy qua từng dự án
Qua nhiều dự án, Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã hình thành và làm chủ năng lực tổng thầu EPC/EPCI/EPCIC các công trình dầu khí ngoài khơi. Năng lực này tập trung tại các lực lượng kỹ thuật nòng cốt, được kiểm chứng qua những công trình trọng điểm quốc gia và các hợp đồng lớn trên thị trường quốc tế.
Trong hệ sinh thái Petrovietnam, Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) là lực lượng chủ lực về tổng thầu thiết kế, mua sắm, chế tạo (EPC) công trình dầu khí ngoài khơi. PTSC triển khai chủ yếu thông qua Công ty TNHH MTV Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC (PTSC M&C) cùng các đơn vị thành viên trong chuỗi dịch vụ.
Xuất khẩu chân đế điện gió ngoài khơi của Petrovietnam - Ảnh: Petrovietnam cung cấp
Bên cạnh đó, Liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro cũng tích lũy năng lực thiết kế, chế tạo, vận chuyển, lắp đặt, đấu nối và chạy thử qua nhiều thế hệ công trình biển. Liên doanh đã đảm nhận các hợp đồng EPCI cho khách hàng ngoài phạm vi các dự án do mình trực tiếp điều hành.
Kết quả trên có được từ quá trình Petrovietnam tổ chức, chuyên môn hóa và tích lũy năng lực qua thực tiễn. Tại PTSC, năng lực phát triển từ các hợp đồng dịch vụ kỹ thuật, thi công và chế tạo. Sau đó, doanh nghiệp mở rộng sang thiết kế, mua sắm quốc tế, vận chuyển, lắp đặt, đấu nối, chạy thử và quản trị tổng thể dự án.
Với Vietsovpetro, hệ thống nghiên cứu - thiết kế, xây lắp, phương tiện thi công trên biển và lực lượng vận hành được hình thành song song với quá trình thăm dò, phát triển và khai thác các mỏ do Liên doanh điều hành. Những nền tảng tích lũy theo các mô hình vận hành khác nhau đã cùng tạo nên chiều sâu năng lực công trình biển của Petrovietnam.
Để hiểu rõ năng lực này, cần làm rõ các khái niệm. EPC bao gồm thiết kế, mua sắm và thi công. Chữ “I” mở rộng trách nhiệm sang vận chuyển, lắp đặt ngoài khơi. Chữ “C” cuối cùng bao gồm đấu nối, chạy thử và hoàn thiện công trình.
Tổng thầu EPCIC không nhất thiết tự thực hiện toàn bộ công việc. Tuy nhiên, tổng thầu phải lựa chọn và tích hợp nguồn lực, kiểm soát các giao diện kỹ thuật, tiến độ, chi phí, chất lượng, an toàn và chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng. Vì vậy, khả năng huy động nhà thầu, phương tiện và công nghệ trong nước, quốc tế theo một phương án thống nhất chính là thước đo năng lực làm chủ dự án.
Những dấu ấn trên bản đồ năng lượng quốc gia
Dấu mốc quan trọng trong quá trình hình thành lực lượng tổng thầu công trình biển của Petrovietnam là Dự án Sư Tử Đen Đông Bắc. Năm 2008, Cửu Long JOC trao hợp đồng dự án này cho PTSC M&C. Đây là dự án EPCI đầu tiên của PTSC M&C, với giá trị hợp đồng gần 190 triệu USD.
Đây cũng là lần đầu tiên một nhà thầu Việt Nam chịu trách nhiệm xuyên suốt toàn bộ các công đoạn của một dự án mà trước đó chỉ nhà thầu nước ngoài mới có thể thực hiện. Trong dự án, PTSC M&C đồng thời quản lý các nhà thầu phụ quốc tế lớn như McDermott (Mỹ) ở các hạng mục thiết kế, vận chuyển và lắp đặt.
Tiếp nối thành công từ Dự án Sư Tử Đen Đông Bắc, PTSC M&C tiếp tục làm tổng thầu EPC/EPCI tại hàng loạt công trình dầu khí quy mô lớn trong nước như Chim Sáo, Tê Giác Trắng, Hải Sư Trắng - Hải Sư Đen... Qua chuỗi dự án này, doanh nghiệp không ngừng nâng cao phạm vi trách nhiệm, đi sâu vào thiết kế và tích hợp kỹ thuật phức tạp.
Hai khối thượng tầng giàn đầu giếng (Gallaf Batch 3) rời bãi chế tạo của tổng thầu PTSC M&C hướng về vùng biển Qatar - Ảnh: Petrovietnam cung cấp
Năm 2011, đội ngũ kỹ sư PTSC M&C lần đầu tiên tự đảm nhận toàn bộ khâu thiết kế chi tiết cho giàn Hải Sư Đen. Đây là bước ngoặt lịch sử của doanh nghiệp. Chỉ 3 năm sau, giai đoạn 2014-2015, khâu thiết kế chi tiết của đơn vị tại các dự án trọng điểm đã đạt tỷ lệ nội địa hóa 100%, do chính nguồn lực Việt Nam thực hiện.
Vietsovpetro có quá trình hình thành năng lực khác. Được tổ chức theo mô hình nhà điều hành dầu khí tích hợp, Liên doanh sớm xây dựng các đơn vị nghiên cứu - thiết kế, xây lắp, vận tải biển, cơ điện và khai thác phục vụ phát triển mỏ.
Năm 1982, Xí nghiệp Xây lắp, Khảo sát và Sửa chữa các công trình khai thác dầu khí được thành lập. Qua nhiều thập kỷ xây dựng công trình tại các mỏ Bạch Hổ, Rồng và những mỏ kết nối, lực lượng này tích lũy kinh nghiệm từ thiết kế, chế tạo, hạ thủy, lắp đặt đến đấu nối, chạy thử. Do khối lượng công việc ban đầu chủ yếu gắn với các mỏ do Vietsovpetro điều hành, năng lực ấy được thể hiện qua hệ thống công trình đi vào khai thác nhiều hơn là qua các hợp đồng tổng thầu trên thị trường.
Sau này, Vietsovpetro đưa nền tảng đó ra thị trường dịch vụ. Giàn BK - Thiên Ưng là dự án EPCI đầu tiên và có quy mô lớn nhất ngoài Lô 09-1 do Vietsovpetro thực hiện tại thời điểm hoàn thành.
Tháng 11/2022, PVEP POC tiếp tục ký với Vietsovpetro hợp đồng EPCI Dự án phát triển mỏ Đại Hùng giai đoạn 3, Lô 05-1(a). Phạm vi hợp đồng gồm giàn đầu giếng WHP-DH01 và các hạng mục kết nối với FPU Đại Hùng 01. Các hợp đồng này cho thấy Vietsovpetro đã từng bước chuyển hóa nền tảng kỹ thuật hùng hậu của một nhà điều hành thành năng lực cung cấp dịch vụ EPCI cho các chủ đầu tư khác.
Biển Đông 01, Sao Vàng và Lô B nâng tầm quy mô công trình
Biển Đông 01 là bước phát triển có tính quyết định đối với năng lực tổng thầu ngoài khơi của Petrovietnam. Dự án phát triển hai mỏ khí - condensate Hải Thạch và Mộc Tinh ở khu vực nước sâu, xa bờ, cách Vũng Tàu khoảng 320 km.
Năm 2010, PTSC M&C được giao làm tổng thầu EPCIC các hạng mục công trình trọng yếu của dự án. Hợp đồng có giá trị gần 1 tỷ USD, tổng quy mô gần 40.000 tấn kết cấu. Dự án đặt ra những bài toán chưa từng có tại Việt Nam về thiết kế, chế tạo kết cấu siêu trường, siêu trọng và lắp đặt ngoài khơi.
Để đáp ứng yêu cầu, bãi thi công được mở rộng gấp ba lần. Sức chịu tải nền được nâng từ khoảng 4 tấn/m² lên 50 tấn/m². Hệ thống đường trượt có khả năng tiếp nhận công trình tới 25.000 tấn cũng được đầu tư.
Hạng mục tổng thầu hoàn thành trong khoảng 30 tháng, với hơn 8,7 triệu giờ lao động an toàn. Khoảng 90% khối lượng công việc được thực hiện trong nước. Các giải pháp kỹ thuật góp phần rút ngắn tiến độ khoảng 2 năm và tiết kiệm 74 triệu USD. Tính đến cuối năm 2025, Biển Đông 01 đã khai thác an toàn, hiệu quả hơn 20 tỷ m³ khí, hơn 30 triệu thùng condensate, đạt doanh thu lũy kế hơn 5,3 tỷ USD.
Lắp đặt ngoài khơi giàn CPP Sao Vàng - Ảnh: Petrovietnam cung cấp
Sau bước tiến về quy mô và độ phức tạp tại Biển Đông 01, PTSC M&C tiếp tục xác lập cột mốc mới với dự án Sao Vàng - Đại Nguyệt. Với vai trò tổng thầu EPCIC, PTSC M&C thực hiện giàn xử lý trung tâm Sao Vàng, công trình có quy mô lớn nhất Việt Nam tại thời điểm hoàn thành. Chân đế giàn nặng khoảng 12.600 tấn, khối thượng tầng nặng 14.000 tấn.
Giàn CPP Sao Vàng tích hợp các chức năng xử lý, nhà ở và giếng khai thác trong cùng một công trình. Điều này đòi hỏi sự đồng bộ cao giữa thiết kế, chế tạo, vận chuyển, lắp đặt, đấu nối và chạy thử. Thực hiện thành công một giàn có quy mô và mức độ tích hợp lớn như vậy cho thấy năng lực tổng thầu của doanh nghiệp đã được nâng lên rõ rệt.
Hiện nay, năng lực này tiếp tục được phát huy tại phần thượng nguồn của Chuỗi dự án khí - điện Lô B - Ô Môn. PTSC tham gia liên danh tổng thầu gói EPCI#1, trị giá xấp xỉ 1,1 tỷ USD. Gói thầu gồm giàn công nghệ trung tâm, giàn nhà ở và tháp đuốc. Trọng lượng chân đế khoảng 14.000 tấn, khối thượng tầng khoảng 26.000 tấn, lớn nhất từ trước đến nay tại Việt Nam.
Với gói EPCI#2, PTSC M&C đảm nhận 4 giàn thu gom/giàn đầu giếng có tổng khối lượng gần 15.000 tấn, cùng 4 tuyến đường ống nội mỏ dài gần 50 km.
Ở quy mô toàn chuỗi, Lô B - Ô Môn có tổng mức đầu tư gần 12 tỷ USD. Dự án dự kiến cung cấp khoảng 5,06 tỷ m³ khí mỗi năm cho 4 nhà máy điện có tổng công suất lắp đặt 3.800 MW. Phạm vi công việc trải rộng trên nhiều công trình và giao diện kỹ thuật, gắn với một chuỗi dự án chiến lược về an ninh năng lượng.
PTSC và PTSC M&C đảm nhận vai trò tổng thầu chính tại các gói thầu trọng yếu. Điều này cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đã đủ năng lực dẫn dắt những công trình có độ phức tạp kỹ thuật cao, quy mô lớn và mang ý nghĩa quốc gia.
Cạnh tranh ngang hàng tại thị trường quốc tế
Năng lực tích lũy qua các công trình trọng điểm trong nước đã mở đường để Petrovietnam tham gia sâu hơn vào thị trường quốc tế. Đại diện tiêu biểu là PTSC, thông qua đơn vị thành viên PTSC M&C.
Sau những dự án đầu tiên như HRD tại Ấn Độ cho ONGC và Maharaja Lela South của Total E&P tại Brunei, tháng 11/2018, PTSC M&C trở thành doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên trúng thầu EPCI tại Qatar. Đó là Dự án Gallaf 1 của North Oil Company, liên doanh giữa QatarEnergy và TotalEnergies, trị giá gần 350 triệu USD, tại mỏ Al-Shaheen, mỏ dầu ngoài khơi lớn nhất Qatar.
Các dự án tại Trung Đông có yêu cầu kỹ thuật cao, tiêu chuẩn an toàn nghiêm ngặt và mức độ cạnh tranh gay gắt. Trong quá trình đấu thầu Gallaf 1, PTSC M&C đã cạnh tranh ngang hàng và vượt qua các nhà thầu đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Mỹ và châu Âu. Đây đều là những quốc gia có ngành công nghiệp dầu khí lâu đời và nguồn lực mạnh.
Dự án đồng thời đòi hỏi năng lực tổ chức, điều hành xuyên quốc gia, từ khâu chế tạo tại Vũng Tàu đến triển khai ngoài khơi Qatar. Dù chịu tác động nặng nề của đại dịch Covid-19, dự án vẫn hoàn thành, đáp ứng yêu cầu chất lượng và được bàn giao cho chủ đầu tư đúng tiến độ. Sau thành công này, năm 2021, North Oil Company tiếp tục trao cho PTSC M&C gói EPCI thuộc Gallaf Batch 3.
Thước đo quan trọng hơn đối với năng lực nhà thầu là quá trình xét duyệt, phê duyệt của các nhà điều hành, chủ đầu tư lớn trên thế giới. Đây là quá trình sàng lọc nghiêm ngặt về năng lực kỹ thuật, hệ thống quản lý an toàn - chất lượng, kinh nghiệm dự án và khả năng thực hiện cam kết.
PTSC đã và đang là lựa chọn của nhiều nhà điều hành lớn trong khu vực và trên thế giới như TotalEnergies, QatarEnergy, ExxonMobil, Petronas, PTTEP, ONGC... Việc khách hàng tiếp tục lựa chọn và mở rộng phạm vi hợp tác là sự xác nhận trực tiếp đối với năng lực kỹ thuật và quản trị của doanh nghiệp Petrovietnam.
Lực lượng chủ lực của công nghiệp dầu khí quốc gia
Qua hàng chục năm xây dựng và phát triển, Petrovietnam đã hình thành nền tảng cơ sở vật chất và năng lực tổng thầu công trình biển (offshore) tầm khu vực. Nền tảng đó gồm các bãi chế tạo chiến lược dọc bờ biển Việt Nam, với trọng tâm là cụm căn cứ dịch vụ dầu khí tại Vũng Tàu của PTSC (gần 200 ha) và Vietsovpetro (hơn 80 ha).
Cùng với hạ tầng là lực lượng kỹ sư, chuyên gia, công nhân kỹ thuật giàu kinh nghiệm và hệ thống quản lý dự án, an toàn, chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Trên nền tảng đó, PTSC đã trở thành lực lượng dịch vụ kỹ thuật chủ lực về tổng thầu với gần 100 dự án EPC/EPCIC trong và ngoài nước, có khả năng đảm nhận phạm vi trách nhiệm ngày càng rộng.
Trong khi đó, Vietsovpetro tích lũy năng lực EPCI qua nhiều thế hệ công trình do mình điều hành và các hợp đồng dịch vụ. Năng lực này được kiểm chứng bằng những dự án đã đi vào khai thác an toàn, hiệu quả. Cùng với sự tham gia của các đơn vị, doanh nghiệp và đối tác trong nước, các năng lực trên tạo nên chuỗi thực hiện công trình dầu khí ngoài khơi của Petrovietnam.
Như vậy, năng lực tổng thầu của Petrovietnam không nhất thiết phải do một doanh nghiệp tự làm mọi công đoạn hay sở hữu mọi phương tiện đặc thù. Giá trị cốt lõi nằm ở khả năng trực tiếp thực hiện những phần việc đã làm chủ, huy động đúng nguồn lực trong nước và quốc tế, kiểm soát chất lượng, tiến độ, chi phí, an toàn và chịu trách nhiệm đến cùng.
Các doanh nghiệp Việt Nam đã cạnh tranh sòng phẳng với các đối thủ trên thế giới, liên tiếp trúng thầu và hoàn thành dự án trong những điều kiện khó khăn. Đó là câu trả lời rõ ràng nhất về năng lực, đồng thời là minh chứng cho sức mạnh công nghiệp Việt Nam trên bản đồ năng lượng toàn cầu.
Từ những công trình trọng điểm trong nước đến các dự án quốc tế, năng lực tổng thầu của Petrovietnam đã được khẳng định bằng thực tiễn, bằng khả năng làm chủ kỹ thuật và đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe của thị trường. Quan trọng hơn, đây không chỉ là bước trưởng thành của một doanh nghiệp, mà còn là minh chứng cho năng lực công nghiệp Việt Nam. Tiếp tục phát huy nền tảng này sẽ góp phần nâng cao tính tự chủ, sức cạnh tranh của ngành công nghiệp năng lượng và năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.