Đóng

Tường thuật trực tiếp Tọa đàm: Sử dụng xăng E10 có đáng lo?

Tại tọa đàm "Sử dụng xăng E10 có đáng lo?", các chuyên gia thảo luận về tác động động cơ, hiệu quả kinh tế khi loại xăng này phủ sóng toàn quốc.

Chiều 1/6, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức tọa đàm "Toạ đàm: Sử dụng xăng E10 có đáng lo?" với sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội, cùng các chuyên gia kỹ thuật nhằm trao đổi, phân tích và giải đáp những băn khoăn của dư luận liên quan đến việc sử dụng xăng sinh học E10.

Quang cảnh tọa đàm. Ảnh: Lê An

Tham gia tọa đàm có ông Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương); PGS.TS Phạm Hữu Tuyến, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và Phương tiện tự hành, Đại học Bách khoa Hà Nội; ông Bùi Ngọc Bảo, Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam; ông Lỗ Hải Nam, Trưởng ban Kỹ thuật Hiệp hội Các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM); ông Đỗ Văn Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam. 

Từ ngày 1/6/2026, xăng sinh học E10 chính thức được phân phối và kinh doanh trên phạm vi cả nước theo lộ trình từ Thông tư số 50/2025/TT-BCT của Bộ Công thương: Quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam.

Đây là bước đi nằm trong lộ trình phát triển nhiên liệu sinh học, phù hợp với xu hướng chuyển dịch năng lượng trên thế giới, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, bảo đảm an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam.

Trước khi triển khai trên toàn quốc, xăng E10 đã được thí điểm tại một số địa phương trong gần một năm. Kết quả bước đầu cho thấy chưa xuất hiện khác biệt đáng kể so với việc sử dụng xăng khoáng thông thường. Quá trình chuyển đổi cũng được các cơ quan chức năng xây dựng theo lộ trình phù hợp, dựa trên đánh giá tác động toàn diện, bảo đảm triển khai từng bước, tránh gây xáo trộn cho thị trường và người tiêu dùng.

Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa vào sử dụng các loại xăng sinh học như E10, E15, thậm chí E20. Tuy nhiên, dù đã trải qua giai đoạn thí điểm trước khi áp dụng đại trà, xăng E10 vẫn nhận được nhiều ý kiến khác nhau từ người dân và doanh nghiệp sản xuất ô tô, xe máy. Những vấn đề được quan tâm tập trung vào khả năng tương thích với động cơ, mức tiêu hao nhiên liệu, hiệu quả kinh tế cũng như cơ chế bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng trong trường hợp phát sinh các tác động ngoài mong muốn khi sử dụng loại nhiên liệu này.

Thông tin các vị khách mời tại tọa đàm:

1. Ông Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương)

2. Ông Bùi Ngọc Bảo, Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam

3. PGS.TS Phạm Hữu Tuyến - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và Phương tiện tự hành, Đại học Bách khoa Hà Nội

4. Ông Lỗ Hải Nam, Trưởng ban Kỹ thuật Hiệp hội các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM)

5. Ông Đỗ Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam 

Ông Đào Duy Anh: Nhiên liệu sinh học góp phần đảm bảo an ninh năng lượng 

- Là đại diện cơ quan quản lý nhà nước, xin ông Đào Duy Anh có thể cung cấp các thông tin khái quát về lộ trình áp dụng tỉ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống? Việc sử dụng nhiên liệu phối trộn này tại sao lại được coi là xu thế toàn cầu và đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng như thế nào?Những bài học gì Việt Nam có thể áp dụng từ bài học kinh nghiệm về phát triển và sử dụng nhiên liệu sinh học? 

Ông Đào Duy Anh: Năm 2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 177/2007/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025”. Đề án này quy định các nội dung liên quan đến phát triển nhiên liệu sinh học, từ sản xuất, sử dụng đến đánh giá tác động của loại nhiên liệu này đối với các mục tiêu phát triển.

Trên cơ sở đó, ngày 22/11/2012, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ký ban hành Quyết định số 53/2012/QĐ-TTg quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam. Đây là lộ trình triển khai các loại nhiên liệu hỗn hợp giữa xăng khoáng và nhiên liệu sinh học sử dụng cho động cơ xăng.

Ông Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương). Ảnh: Lê An

Theo lộ trình đã được phê duyệt, sau thời gian thử nghiệm, từ ngày 1/12/2015, xăng E5 được phối trộn và phân phối trên phạm vi toàn quốc. Hai năm sau, tức ngày 1/12/2017, xăng E10 dự kiến được triển khai phân phối trên toàn quốc. Tiếp đó, từ ngày 1/1/2018, toàn bộ xăng RON 92 được phối trộn 5% ethanol để trở thành xăng E5 RON 92 và được phân phối rộng rãi trên cả nước. Tuy nhiên, giai đoạn triển khai xăng E10 sau đó vẫn chưa thực hiện được như kế hoạch.

Nguồn nhiên liệu hóa thạch là tài nguyên hữu hạn và ngày càng suy giảm theo quá trình khai thác. Đồng thời, Việt Nam đang hướng tới xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn nhằm bảo đảm phát triển bền vững. Vì vậy, nhiều mục tiêu và định hướng đã được đặt ra nhằm giảm phát thải khí nhà kính, thực hiện các cam kết quốc tế và tiến tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào giữa thế kỷ này.

Bên cạnh đó, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp và giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch cũng là những mục tiêu quan trọng. Trên cơ sở đó, Chính phủ xác định cần tiếp tục thúc đẩy việc sử dụng nhiên liệu sinh học để thực hiện các mục tiêu nêu trên.

Từ cuối năm 2024, Bộ Công Thương đã triển khai các công việc nhằm xây dựng lộ trình mới về nhiên liệu sinh học. Quá trình này được thực hiện bài bản, theo từng bước cụ thể. Trước hết là đánh giá kết quả thực hiện Quyết định số 53 của Thủ tướng Chính phủ, từ đó làm rõ những yếu tố thành công cũng như các nguyên nhân khiến một số mục tiêu chưa đạt được như kỳ vọng, làm cơ sở xác định các mục tiêu cho giai đoạn tiếp theo.

Song song với đó, Bộ Công Thương tổ chức nhiều cuộc khảo sát, làm việc với các nhà khoa học, đồng thời trao đổi thông tin với Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) và Hiệp hội Các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM) nhằm đánh giá mức độ tương thích của các loại phương tiện đang lưu hành tại Việt Nam đối với nhiên liệu sinh học.

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu trong nước, cùng những thông tin thu thập được từ các hội thảo quốc tế tổ chức tại Việt Nam và nước ngoài, cũng như ý kiến của các chuyên gia quốc tế, Bộ Công Thương đánh giá nhiên liệu sinh học đáp ứng các mục tiêu đã đề ra, đồng thời bảo đảm mức độ an toàn tương đối cao đối với các phương tiện đang lưu thông. Đánh giá này dựa trên số liệu từ các nhà sản xuất ô tô, xe máy và các hiệp hội ngành hàng liên quan.

Sau đó, Bộ Công Thương xây dựng và ban hành lộ trình nhiên liệu sinh học, trong đó Thông tư số 50 quy định những nội dung cốt lõi. Theo lộ trình này, từ ngày 1/1/2026, các loại xăng không chì lưu thông trên thị trường phải đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành. Quy chuẩn này được quy định tại QCVN 01:2022 và đã được sửa đổi, bổ sung bởi QCVN 01:2026 về nhiên liệu.

Việc sử dụng nhiên liệu sinh học tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới xuất phát từ nhiều mục tiêu quan trọng, trước hết là bảo vệ môi trường. Theo tính toán, giảm tiêu thụ 1 lít xăng có thể giúp giảm khoảng 2,5 kg khí CO2 phát thải ra môi trường.

Ngoài ra, nhiên liệu sinh học là nguồn năng lượng tái tạo được sản xuất từ các sản phẩm nông nghiệp. Đây là nguồn nhiên liệu có khả năng tái tạo liên tục, khác với nhiên liệu hóa thạch vốn ngày càng cạn kiệt.

Phát triển ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học còn góp phần hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ vùng nguyên liệu, nhà máy sản xuất đến hệ thống logistics và phân phối, qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Một lợi ích quan trọng khác là góp phần giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Thực tế thời gian qua cho thấy nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng nhiên liệu luôn hiện hữu do các yếu tố địa chính trị hoặc xung đột vũ trang. Vì vậy, việc nâng cao khả năng tự chủ thông qua các nguồn nhiên liệu mới sẽ giúp giảm phụ thuộc vào nhiên liệu khoáng, đồng thời tăng cường bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Ông Đỗ Văn Tuấn: E10 đã trở thành xăng tiêu chuẩn toàn cầu

- Thưa ông Đỗ Văn Tuấn, nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng nhiên liệu sinh học pha trộn như E10, E15 từ khá sớm. Ông có thể cho biết xu hướng sử dụng loại nhiên liệu này trên thế giới hiện nay và những kinh nghiệm Việt Nam có thể tham khảo?

Ông Đỗ Văn Tuấn: Hiện nay, trên thế giới có hơn 65 quốc gia và vùng lãnh thổ sử dụng nhiên liệu sinh học pha trộn. Nếu xét về quy mô dân số, các quốc gia này chiếm khoảng 97% dân số toàn cầu. Vì vậy, dù con số hơn 65 quốc gia có thể chưa phản ánh toàn bộ gần 200 quốc gia trên thế giới, nhưng thực tế cho thấy xăng sinh học đã trở thành xu hướng phổ biến trên phạm vi toàn cầu.

Tại Mỹ, xăng E10 hiện chiếm khoảng 98% tổng lượng xăng tiêu thụ. Chỉ một tỷ lệ rất nhỏ xăng khoáng được duy trì cho một số mục đích sử dụng đặc thù. Tại châu Âu, E10 cũng đã được sử dụng rộng rãi. Ở khu vực châu Á, nhiều quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Thái Lan đều đã triển khai xăng E10. Australia cũng sử dụng loại nhiên liệu này trong thời gian dài.

Ông Đỗ Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam. Ảnh: Lê An

Ngay cả Nhật Bản, quốc gia vốn rất thận trọng trong việc thay đổi các tiêu chuẩn kỹ thuật cũng đã xây dựng lộ trình đưa E10 trở thành nhiên liệu phổ biến từ ngày 1/1/2027. Có thể thấy, tại hầu hết các khu vực kinh tế lớn trên thế giới, xăng E10 đã trở thành loại xăng tiêu chuẩn trong lưu thông và tiêu dùng.

Điều thuận lợi nhất đối với Việt Nam là chúng ta không phải đi lại con đường thử nghiệm mà nhiều quốc gia đã trải qua. Xăng E10 đã được sử dụng thực tế trong thời gian rất dài. Chẳng hạn tại Mỹ, loại nhiên liệu này đã được đưa vào sử dụng từ năm 1985. Điều đó có nghĩa là Việt Nam đang tiếp cận một sản phẩm đã được kiểm chứng qua hàng chục năm vận hành trên thực tế.

Bài học thứ hai là xăng dầu là mặt hàng có hệ thống tiêu chuẩn quốc tế rất chặt chẽ. Xăng E10 tại Việt Nam hay tại các quốc gia khác về cơ bản đều được sản xuất và quản lý theo những tiêu chuẩn kỹ thuật tương đồng, dù có thể khác nhau ở một số chỉ tiêu cụ thể. Vì vậy, quá trình chuyển đổi sang sử dụng E10 không phải bắt đầu từ con số không.

Nhờ kế thừa kinh nghiệm quốc tế, Việt Nam có thể rút ngắn đáng kể thời gian đánh giá tính tương thích của nhiên liệu đối với phương tiện giao thông cũng như hiệu quả kinh tế - môi trường mang lại. Nói cách khác, chúng ta được thụ hưởng thành quả từ quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng đã diễn ra trong nhiều thập kỷ tại các quốc gia đi trước, từ đó có thêm cơ sở để triển khai lộ trình phát triển nhiên liệu sinh học một cách hiệu quả và an toàn.

Ông Bùi Ngọc Bảo: Chuyển đổi sang xăng E10 là bước đi chủ động, được chuẩn bị kỹ lưỡng

- Thưa ông Bùi Ngọc Bảo, từ yêu cầu phát triển bền vững, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính, xin ông phân tích rõ hơn những lợi ích của việc sử dụng xăng E10 trên phạm vi toàn quốc từ ngày 1/6 đối với người dân cũng như nền kinh tế?

Ông Bùi Ngọc Bảo: Trước hết, cần nhìn nhận việc triển khai Thông tư 50 và chuyển đổi từ xăng khoáng sang xăng E10 trong một bối cảnh rộng hơn của quá trình phát triển nhiên liệu tại Việt Nam.

Về lộ trình phát triển nhiên liệu sinh học, ông Đào Duy Anh đã đề cập khá đầy đủ. Tuy nhiên, xét riêng lĩnh vực nhiên liệu, từ những năm 1980 đến nay, Việt Nam đã trải qua nhiều lần chuyển đổi lớn mang tính bước ngoặt.

Lần thứ nhất diễn ra vào thập niên 1990, khi chúng ta chuyển đổi toàn bộ hệ thống tiêu chuẩn nhiên liệu từ tiêu chuẩn GOST của Liên Xô sang tiêu chuẩn ASTM của các nước phương Tây. 

Lần tiếp theo diễn ra vào năm 2000, khi Việt Nam chuyển đổi hoàn toàn từ xăng pha chì sang xăng không chì. Đây là sự thay đổi có tác động lớn đối với các phương tiện giao thông thời điểm đó.

Từ năm 2000 đến nay, chúng ta tiếp tục thực hiện nhiều đợt chuyển đổi nhiên liệu. Đặc biệt, theo Quyết định số 53 về lộ trình phát triển nhiên liệu sinh học, cuối năm 2017 và đầu năm 2018, Việt Nam thực hiện bước chuyển đổi đầu tiên từ xăng khoáng RON 92 sang xăng sinh học E5.

Có thể thấy, ở các lần chuyển đổi trước đây, luôn xuất hiện những băn khoăn từ phía người dân, doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Tuy nhiên, phần lớn các đợt chuyển đổi đó diễn ra trong thế bị động. 

Ngược lại, quá trình chuyển đổi sang nhiên liệu sinh học lần này là một bước đi chủ động. Từ sau Quyết định 53 và việc triển khai E5 vào năm 2018, Chính phủ, các cơ quan quản lý và doanh nghiệp đã có sự chuẩn bị trên cơ sở đánh giá kỹ lưỡng các nguồn lực. Chúng ta đã có các nhà máy lọc dầu, có chương trình phát triển nhiên liệu sinh học và có những tính toán dài hạn nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.

Đây là quá trình chuyển đổi được chuẩn bị kỹ lưỡng với những mục tiêu rất rõ ràng: thúc đẩy tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh năng lượng và giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Đồng thời, việc phát triển nhiên liệu sinh học còn gắn với định hướng phát triển nông nghiệp, hình thành các vùng nguyên liệu, tạo đầu ra cho sản phẩm của nông dân. Đó là những mục tiêu mang tính chiến lược.

Về mặt kỹ thuật và hạ tầng, mặc dù xăng sinh học đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới, Việt Nam vẫn tiến hành nhiều nghiên cứu, thử nghiệm để đánh giá mức độ phù hợp với điều kiện thực tế trong nước. Các nhà khoa học, chuyên gia kỹ thuật và kinh tế đã tham gia đánh giá toàn diện trước khi triển khai.

Song song với đó, hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật cũng được xây dựng đầy đủ. Có thể khẳng định rằng các tiêu chuẩn kỹ thuật của xăng E5 và E10 về cơ bản tương đồng với xăng khoáng ở hầu hết các chỉ tiêu quan trọng.

Đối với xăng, ngoài chỉ số octan (RON), một trong những yếu tố quan trọng nhất là đặc tính chưng cất, bao gồm nhiệt độ sôi đầu, tỷ lệ chưng cất ở các mức 10%, 50%, 90%... Đây là những thông số quyết định khả năng khởi động, khả năng cháy và tăng tốc của động cơ. Các chỉ tiêu này của xăng E10 đều được xây dựng trên nền tảng tiêu chuẩn của xăng khoáng, bảo đảm tính tương đồng về mặt kỹ thuật.

Điểm khác biệt chủ yếu là việc bổ sung ethanol, làm tăng hàm lượng oxy trong nhiên liệu. Nhờ đó, quá trình cháy diễn ra sạch hơn, góp phần giảm phát thải ra môi trường.

Có thể nói, đây là một bước đi chủ động với sự chuẩn bị rất công phu. Trong quá trình chuyển đổi chắc chắn vẫn có thể xuất hiện những vấn đề cần tiếp tục theo dõi và hoàn thiện. Tuy nhiên, theo đánh giá của các doanh nghiệp hội viên trong lĩnh vực cung ứng nhiên liệu, Việt Nam đã có gần 10 năm thực tiễn triển khai xăng E5. Trong suốt thời gian đó, không ghi nhận những vấn đề đáng kể liên quan đến chất lượng nhiên liệu. Sản lượng E5 giảm trong những năm gần đây chủ yếu do người tiêu dùng chuyển sang sử dụng các loại xăng có chất lượng cao hơn, chứ không phải vì các vấn đề kỹ thuật.

Vì vậy, việc chuyển đổi sang xăng E10 lần này có thể xem là một chương trình đã được Chính phủ, các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp chuẩn bị rất kỹ lưỡng cả về chính sách, kỹ thuật lẫn hạ tầng triển khai.

Ông Đào Duy Anh: Chuyển đổi đồng bộ để đạt mục tiêu môi trường và an ninh năng lượng

- Thưa ông, nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam có thể duy trì song song xăng E10 và xăng khoáng như một số quốc gia trên thế giới. Vì sao từ ngày 1/6/2026, chúng ta quyết định chuyển sang sử dụng xăng E10 mà không tiếp tục lưu thông xăng khoáng RON95?

Ông Đào Duy Anh: Việc triển khai lộ trình nhiên liệu sinh học theo Thông tư số 50 của Bộ Công Thương đã được nghiên cứu và chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Quá trình xây dựng chính sách được thực hiện trên cơ sở đánh giá toàn diện từ nguồn cung nguyên liệu, hạ tầng lưu chứa, phối trộn, vận chuyển cho đến hệ thống phân phối tới người tiêu dùng.

Mục tiêu của chương trình phát triển nhiên liệu sinh học không chỉ là thay đổi một loại nhiên liệu, mà còn hướng tới những mục tiêu lớn hơn như bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao khả năng tự chủ nguồn năng lượng và góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Sau quá trình khảo sát, đánh giá và chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết, các cơ quan quản lý nhận thấy đây là thời điểm phù hợp để triển khai quyết liệt chủ trương đã được xác định trong các nghị quyết của Bộ Chính trị, các quyết định của Thủ tướng Chính phủ cũng như định hướng của các bộ, ngành liên quan.

Khi các điều kiện đã chín muồi, không có lý do để tiếp tục duy trì xăng khoáng trong lưu thông. Nếu vẫn phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch thì rất khó đạt được các mục tiêu về giảm phát thải, chuyển dịch năng lượng và nâng cao mức độ tự chủ về năng lượng quốc gia. Chính vì vậy, Bộ Công Thương và Chính phủ lựa chọn phương án chuyển đổi một cách đồng bộ, nhằm bảo đảm đạt được đầy đủ các mục tiêu đã đề ra.

Giá xăng E10 được hình thành theo nguyên tắc thị trường

- Một trong những vấn đề được người tiêu dùng đặc biệt quan tâm là giá bán của xăng E10. Thưa ông Đào Duy Anh, ông có thể cho biết nguyên tắc xác định giá của loại nhiên liệu này và liệu E10 có rẻ hơn xăng truyền thống hay không?

Ông Đào Duy Anh: Cũng như các loại nhiên liệu khác trên thị trường, giá xăng E10 được hình thành từ nhiều yếu tố cấu thành. Trong đó có giá nguyên liệu đầu vào, chi phí sản xuất, chi phí logistics, chi phí phân phối, lợi nhuận của doanh nghiệp và các khoản thuế theo quy định.

Đối với xăng E10, hai thành phần nguyên liệu chính là xăng nền và ethanol nhiên liệu. Giá của các nguyên liệu này chịu tác động trực tiếp từ diễn biến của thị trường thế giới. Khi giá nguyên liệu đầu vào tăng hoặc giảm, giá thành sản xuất xăng E10 cũng sẽ có sự điều chỉnh tương ứng.

Bên cạnh đó, giá bán còn bao gồm các chi phí sản xuất, vận chuyển, lưu thông, kinh doanh và các yếu tố tài chính khác trong chuỗi cung ứng. Vì vậy, giá xăng E10 được xác định theo nguyên tắc thị trường, phản ánh tương đối đầy đủ biến động của giá nguyên liệu đầu vào cũng như các chi phí liên quan trong quá trình sản xuất và phân phối.

Người dùng có thể tra cứu mức độ tương thích của xe máy với xăng E10

- Theo các cơ quan chức năng, xăng sinh học E10 đã được nghiên cứu, thử nghiệm và đánh giá phù hợp với phần lớn phương tiện đang lưu hành hiện nay và việc sử dụng xăng E10 không chỉ giúp giảm phát thải ra môi trường mà còn góp phần giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu, thúc đẩy tiêu thụ nguyên liệu sinh học trong nước. Đứng ở góc độ của nhà sản xuất xe máy, ông Lỗ Hải Nam có nhận định như thế nào về quan điểm này và ông có thể phân tích rõ hơn về những lợi ích, những rủi ro, bất lợi có thể phát sinh đối với người tiêu dùng khi sử dụng xăng E10?

Ông Lỗ Hải Nam: Lợi ích dễ nhận thấy nhất của việc sử dụng xăng E10 là góp phần giảm phát thải khí nhà kính. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của Hiệp hội Các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM) và Đại học Bách khoa Hà Nội cho thấy xăng E10 còn giúp giảm đáng kể nồng độ các khí thải như: CO và HC, qua đó hạn chế lượng chất ô nhiễm phát tán ra môi trường. Đây là những lợi ích trực tiếp có thể quan sát và đánh giá được. Ngoài ra, việc phát triển và sử dụng xăng E10 còn mang lại những giá trị lâu dài như nâng cao khả năng tự chủ về nguồn cung nhiên liệu, củng cố an ninh năng lượng và giảm sự phụ thuộc vào các nguồn nhiên liệu truyền thống.

Trưởng Ban Kỹ thuật Hiệp hội các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM) Lỗ Hải Nam. Ảnh: Lê An

Về khía cạnh rủi ro, khi một loại nhiên liệu mới được đưa vào thị trường, người tiêu dùng thường có tâm lý thận trọng và cần thêm thời gian để đánh giá trước khi sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, trên cơ sở các nghiên cứu do VAMM thực hiện cùng những đánh giá từ các doanh nghiệp sản xuất xe máy, có thể khẳng định rằng phần lớn các dòng mô tô, xe gắn máy hiện đang được các thành viên VAMM sản xuất và phân phối đều tương thích với xăng E10.

Đối với một số phương tiện có thời gian sử dụng lâu năm, các nhà sản xuất cũng đã đưa ra những khuyến nghị cụ thể dành cho người dùng. Thông qua hệ thống chăm sóc khách hàng và các đường dây nóng của doanh nghiệp, khách hàng có thể liên hệ để kiểm tra mức độ phù hợp của phương tiện với xăng E10 hoặc nhận tư vấn về loại nhiên liệu thích hợp nhất cho xe của mình. Đây cũng là một trong những nội dung mà các nhà sản xuất đang phối hợp với cơ quan quản lý để tuyên truyền, cung cấp thông tin và nâng cao nhận thức về lợi ích của việc sử dụng xăng E10.

Chuyển đổi năng lượng để tăng sức chống chịu trước biến động toàn cầu

- Một vấn đề dường như chưa được nhiều người quan tâm là yêu cầu chuyển đổi năng lượng trong bối cảnh những biến động địa chính trị ngày càng phức tạp, đặc biệt là các cuộc xung đột tại Trung Đông. Xin ông Bùi Ngọc Bảo phân tích rõ hơn ý nghĩa của việc sử dụng xăng E10 đối với mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng và nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế Việt Nam?

Ông Bùi Ngọc Bảo: Hiện nay, Việt Nam có thể chủ động khoảng 70% nhu cầu các sản phẩm xăng dầu thông qua hoạt động của hai nhà máy lọc dầu trong nước là Nghi Sơn và Dung Quất. Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn vào nguồn nguyên liệu đầu vào, mức độ tự chủ thực tế vẫn còn hạn chế.

Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn hiện chủ yếu sử dụng dầu thô nhập khẩu từ khu vực Trung Đông. Chỉ riêng Nhà máy lọc dầu Dung Quất mới sử dụng nguồn dầu thô được khai thác trong nước. Điều đó cho thấy, xét trên góc độ nguồn cung nguyên liệu gốc, Việt Nam mới thực sự chủ động được khoảng 30% nhu cầu năng lượng, trong khi phần còn lại vẫn phụ thuộc vào nguồn dầu nhập khẩu và chịu tác động từ những biến động của thị trường thế giới.

Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam Bùi Ngọc Bảo

Thực tế những diễn biến căng thẳng tại khu vực Trung Đông thời gian qua đã cho thấy rõ mức độ nhạy cảm của thị trường năng lượng toàn cầu. Khi nguồn cung bị gián đoạn hoặc xuất hiện các yếu tố bất ổn địa chính trị, giá dầu thế giới tăng mạnh, gây áp lực lớn lên hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như đời sống người dân. Việc bảo đảm đủ nguồn cung năng lượng trong những thời điểm đó cũng trở thành thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp và cơ quan quản lý.

Trong bối cảnh đó, mục tiêu của quá trình chuyển đổi năng lượng không chỉ là giảm phát thải hay bảo vệ môi trường, mà còn nhằm nâng cao khả năng chủ động của Việt Nam trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Điều quan trọng là từng bước giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và các nguồn cung bên ngoài.

Nếu xăng E10 được triển khai rộng rãi, đồng nghĩa với việc khoảng 10% thành phần nhiên liệu trong xăng sẽ được thay thế bằng ethanol sản xuất trong nước. Chỉ riêng điều đó đã giúp giảm đáng kể mức độ phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu.

Xa hơn nữa, lộ trình chuyển đổi năng lượng của Việt Nam không dừng lại ở xăng sinh học. Trong tương lai, việc phát triển nhiên liệu sinh học cho dầu diesel (biodiesel) với các tỷ lệ phối trộn cao hơn như 10%, 15% hay 20% - tương tự nhiều quốc gia trong khu vực đang triển khai sẽ tiếp tục mở ra dư địa lớn để giảm nhu cầu nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch.

Mỗi bước tiến trong việc gia tăng tỷ lệ nhiên liệu sinh học đều mang ý nghĩa thiết thực đối với an ninh năng lượng quốc gia. Những biến động tại Trung Đông thời gian qua cũng là lời nhắc nhở rằng việc đa dạng hóa nguồn năng lượng và đẩy nhanh lộ trình chuyển đổi năng lượng không chỉ là yêu cầu của phát triển xanh, mà còn là giải pháp quan trọng để nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc từ bên ngoài.

Đây là quá trình chuyển đổi có ý nghĩa chiến lược, đòi hỏi sự quyết tâm của các cơ quan quản lý, sự đồng hành của doanh nghiệp và sự đồng thuận từ phía người tiêu dùng để vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong dài hạn.

Bài học từ Ấn Độ về phát triển xăng sinh học 

- Thưa ông Đỗ Văn Tuấn, ông có muốn chia sẻ thêm về ý nghĩa của việc sử dụng xăng E10 đối với mục tiêu bảo đảm tự chủ năng lượng quốc gia, nhất là khi thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro và biến động như hiện nay?

Ông Đỗ Văn Tuấn: Tôi cho rằng Ấn Độ là một bài học rất đáng để Việt Nam nghiên cứu. Đây là quốc gia có quy mô dân số rất lớn nhưng nguồn năng lượng tự chủ lại khá hạn chế, đặc biệt là tài nguyên dầu mỏ không dồi dào. Chính vì vậy, Ấn Độ đã sớm nhận ra tầm quan trọng của việc phát triển các nguồn năng lượng thay thế.

Mặc dù không phải là quốc gia khởi động chương trình nhiên liệu sinh học sớm nhất, nhưng Ấn Độ lại triển khai rất nhanh. Họ bắt đầu chương trình nhiên liệu sinh học vào đầu những năm 2000, sau đó nhanh chóng nâng tỷ lệ phối trộn từ E10 lên E20. Mới đây, Chính phủ Ấn Độ đã quyết định nâng lên E30 từ đầu năm 2027. Hiện nay, tỷ lệ phối trộn thực tế đã đạt khoảng 27%.

Đây là kinh nghiệm rất đáng tham khảo đối với Việt Nam. Những quốc gia không có lợi thế lớn về nguồn năng lượng hóa thạch hoàn toàn có thể coi nhiên liệu sinh học là một giải pháp quan trọng để tăng cường tự chủ năng lượng, bởi nguồn nguyên liệu cho nhiên liệu sinh học không bị giới hạn như nhiên liệu hóa thạch.

Bên cạnh đó, điều kiện khí hậu của Ấn Độ cũng tương đồng với Việt Nam khi đều có đặc trưng nóng ẩm. Vì vậy, những lo ngại liên quan đến khả năng hấp thụ hơi nước, hút ẩm hay tách pha của nhiên liệu sinh học không phải là vấn đề quá lớn. Thực tế, nhiều nghiên cứu quốc tế cũng như quá trình thử nghiệm gần đây của Petrolimex cho thấy trong vòng 3 tháng bảo quản, không phát sinh những vấn đề đáng lo ngại.

Từ góc độ kỹ thuật cũng như quản trị năng lượng quốc gia, Ấn Độ là một hình mẫu đáng để chúng ta học hỏi. Theo tôi, trong xu thế hiện nay, Việt Nam cần đa dạng hóa các nguồn năng lượng, vừa phát triển xe điện, vừa tiếp tục sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong thời gian còn cần thiết. Trong bối cảnh đó, nhiên liệu sinh học là một giải pháp quan trọng, không chỉ góp phần nâng cao mức độ tự chủ năng lượng mà còn giúp giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường từ việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch.

Xăng E10 tương thích với đa số ô tô, xe máy đang lưu hành

- Thưa ông, một số người tiêu dùng vẫn băn khoăn rằng xăng E10 với thành phần chứa 10% ethanol có thể gây ăn mòn đường ống nhiên liệu, làm chai cứng gioăng cao su, ảnh hưởng đến độ bền động cơ hoặc phát sinh cặn bẩn trong quá trình sử dụng. Dưới góc độ kỹ thuật, PGS.TS Phạm Hữu Tuyếncho rằng những lo ngại này có cơ sở hay không và người dân có thể yên tâm sử dụng xăng E10 cho các phương tiện đang lưu hành hiện nay?

PGS.TS Phạm Hữu Tuyến: Đây là vấn đề thường được đặt ra khi triển khai một loại nhiên liệu mới. Tuy nhiên, người tiêu dùng không nên quá lo ngại bởi xăng sinh học E10 đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới từ những năm 1980 và đã trải qua quá trình kiểm chứng rất dài về mặt kỹ thuật. Tại khu vực Đông Nam Á, Thái Lan cũng đã sử dụng E10 từ đầu những năm 2000 đến nay mà không ghi nhận những vấn đề bất thường liên quan đến độ bền động cơ.

PGS.TS Phạm Hữu Tuyến, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và Phương tiện tự hành, Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh: Lê An

Đối với Việt Nam, các nhà sản xuất ô tô, xe máy đều đã có đánh giá và khẳng định khả năng tương thích của các chi tiết động cơ với nhiên liệu E10. Khi nói một phương tiện tương thích với E10, cần hiểu rằng mức độ tác động của loại nhiên liệu này đến các chi tiết như gioăng, ống dẫn nhiên liệu hay hệ thống cung cấp nhiên liệu là tương đương với xăng khoáng thông thường. Bản thân các chi tiết này khi sử dụng xăng khoáng trong thời gian dài cũng có sự lão hóa tự nhiên theo tuổi thọ thiết kế.

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã thực hiện các nghiên cứu, thử nghiệm trên một số mẫu ô tô, xe máy đời cũ, kể cả những phương tiện được sản xuất trước năm 2000. Kết quả cho thấy tác động của E10 nhìn chung tương đương với xăng khoáng; ở một số mẫu xe rất cũ nếu có khác biệt thì cũng không đáng kể và không ảnh hưởng lớn đến khả năng vận hành của phương tiện. Vì vậy, với phần lớn phương tiện đang lưu hành hiện nay, người dân hoàn toàn có thể yên tâm sử dụng xăng E10. Đối với một số dòng xe đời cũ có khuyến nghị sử dụng nhiên liệu ở mức RON92, người dùng vẫn có thể lựa chọn xăng E5 RON92 hiện đang tiếp tục được phân phối trên thị trường.

Chênh lệch tiêu hao xăng E10 và xăng khoáng khó nhận thấy trong thực tế

- Bên cạnh những quan ngại về độ bền động cơ khi sử dụng xăng E10, một số người tiêu dùng cũng cho rằng năng lượng tạo ra trên mỗi đơn vị thể tích của ethanol thấp hơn so với xăng khoáng. Từ đó xuất hiện nhận định rằng khi sử dụng xăng E10, ô tô và xe máy có thể bị yếu máy, giảm khả năng tăng tốc và tiêu hao nhiên liệu nhiều hơn, khiến người tiêu dùng chịu thiệt về mặt kinh tế. Vậy khi so sánh giữa xăng khoáng và xăng E10, thưa ông Lỗ Hải Nam, ông có thể phân tích rõ hơn về nhận định này?

Ông Lỗ Hải Nam, Trưởng ban Kỹ thuật Hiệp hội các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM): Đúng là có những quan ngại cho rằng khi sử dụng xăng E10 thì mức tiêu thụ nhiên liệu của phương tiện sẽ tăng lên. Trên thực tế, qua các phân tích về đặc tính nhiên liệu, chúng tôi nhận thấy xăng E10 có nhiệt trị thấp hơn so với xăng khoáng thông thường. Vì vậy, để duy trì cùng một mức công suất động cơ, lượng nhiên liệu tiêu thụ khi sử dụng E10 có thể tăng khoảng 2% so với xăng khoáng.

Tuy nhiên, mức chênh lệch khoảng 2% này rất khó để người sử dụng có thể cảm nhận được trong quá trình vận hành hằng ngày. Chúng tôi cũng không khẳng định rằng xăng E10 hoàn toàn tương đồng với xăng khoáng về mọi mặt, mà chỉ cung cấp các thông tin kỹ thuật cho thấy mức tiêu thụ nhiên liệu có thể có sự khác biệt nhất định. Đây là kết quả được rút ra từ các nghiên cứu và đánh giá thực tế đối với loại nhiên liệu này.”

- Vâng, thưa PGS.TS Phạm Hữu Tuyến, ông có muốn chia sẻ thêm về vấn đề này không, dưới góc độ một chuyên gia kỹ thuật động cơ?

PGS.TS Phạm Hữu Tuyến, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và Phương tiện tự hành, Đại học Bách khoa Hà Nội: Xét về mật độ năng lượng hay nhiệt trị, xăng E10 thấp hơn khoảng 3-4% so với xăng khoáng thuần túy. Tuy nhiên, quá trình cháy trong xi-lanh động cơ để tạo ra năng lượng chịu tác động của nhiều yếu tố, chứ không chỉ riêng nhiệt trị của nhiên liệu.

Chẳng hạn, xăng E10 có chứa một lượng oxy nhất định, giúp quá trình cháy trong động cơ diễn ra hoàn thiện hơn. Nhờ đó, lượng khí thải như HC và CO, những chất phát sinh do nhiên liệu cháy không hoàn toàn, được giảm đáng kể. Khi quá trình cháy hiệu quả hơn, hiệu suất nhiệt của động cơ cũng được cải thiện.

Ngoài ra còn có một số yếu tố khác, dù không lớn, nhưng cũng góp phần bù đắp cho phần nhiệt trị giảm đi. Ví dụ, khối lượng riêng của ethanol cao hơn khối lượng riêng của xăng khoáng, nên một lít xăng E10 có khối lượng nhỉnh hơn một chút so với một lít xăng khoáng thuần túy.

Vì vậy, mức tiêu hao nhiên liệu không chỉ phụ thuộc vào nhiệt trị mà còn chịu tác động của nhiều yếu tố liên quan đến quá trình cháy và hiệu suất vận hành của động cơ. Kết quả thử nghiệm tại Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và Phương tiện tự hành, Đại học Bách khoa Hà Nội cho thấy những thay đổi về công suất cũng như mức tiêu thụ nhiên liệu khi sử dụng xăng sinh học E10 là rất nhỏ và hoàn toàn có thể xem là tương đương với khi sử dụng xăng khoáng thông thường.

Xăng E10 mang lại lợi ích môi trường và kinh tế cho người tiêu dùng

-Sau gần một năm triển khai thí điểm xăng E10 tại một số địa phương, đâu là những khác biệt đáng chú ý giữa xăng E10 và xăng khoáng RON95, cả ở góc độ lợi ích lẫn những vấn đề người tiêu dùng cần lưu ý trong quá trình sử dụng, thưa ông? 

Ông Bùi Ngọc Bảo: Trong thời gian qua, các đơn vị trong lĩnh vực nhiên liệu đã thực hiện nhiều nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng xăng sinh học và cung cấp thông tin đầy đủ cho người tiêu dùng. Về mặt kỹ thuật, đúng là nhiệt trị của xăng E10 và E5 thấp hơn xăng khoáng do đặc tính lý hóa của ethanol. Nếu chỉ xét riêng yếu tố nhiệt trị, lượng nhiên liệu tiêu thụ để tạo ra cùng một mức công suất có thể cao hơn.

Tuy nhiên, hiệu quả vận hành của động cơ không chỉ phụ thuộc vào nhiệt trị. Ethanol có hàm lượng oxy cao hơn nên giúp quá trình cháy diễn ra triệt để hơn, nâng cao hiệu suất đốt cháy nhiên liệu. Chính yếu tố này góp phần bù đắp phần chênh lệch về nhiệt trị và giúp phương tiện vận hành ổn định.

Một lợi thế khác của xăng E10 là được hưởng các chính sách ưu đãi thuế nhằm khuyến khích sử dụng nhiên liệu thân thiện với môi trường. Hiện nay, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng E10 thấp hơn so với xăng khoáng. Bên cạnh đó, loại nhiên liệu này cũng được áp dụng mức thuế bảo vệ môi trường ưu đãi hơn. Điều đó cho thấy các cơ quan quản lý đã tính toán để việc sử dụng xăng sinh học không chỉ mang lại lợi ích môi trường mà còn tạo lợi ích kinh tế cho người tiêu dùng.

Đối với những băn khoăn liên quan đến hiện tượng cặn bẩn hoặc ảnh hưởng đến hệ thống nhiên liệu, cần nhìn nhận rằng phần lớn các vấn đề phát sinh nếu có thường liên quan đến quá trình sử dụng và bảo dưỡng phương tiện trong thời gian dài. Nhiều xe có hệ thống cung cấp nhiên liệu không được vệ sinh, bảo dưỡng đúng cách hoặc thường xuyên sử dụng nhiên liệu không phù hợp với khuyến cáo của nhà sản xuất. Khi chuyển sang sử dụng nhiên liệu có khả năng làm sạch tốt hơn như E10, các tồn dư tích tụ lâu ngày có thể được cuốn trôi, khiến người dùng hiểu nhầm rằng nguyên nhân xuất phát từ nhiên liệu mới.

Trên thực tế, mỗi lần chuyển đổi nhiên liệu đều xuất hiện tâm lý lo ngại trong xã hội. Trước đây, khi Việt Nam chuyển từ xăng pha chì sang xăng không chì cũng từng có nhiều ý kiến băn khoăn về độ bền động cơ và vật liệu. Tuy nhiên, những lo ngại đó đã nhanh chóng được giải đáp thông qua thực tiễn sử dụng. 

Điều quan trọng hiện nay là người tiêu dùng cần sử dụng đúng chủng loại nhiên liệu theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Không chỉ quan tâm đến chỉ số octane như RON92 hay RON95, người sử dụng cũng cần chú ý tới tiêu chuẩn chất lượng nhiên liệu tương ứng với các mức khí thải. Nhiều dòng xe sản xuất từ năm 2017 trở lại đây đã được thiết kế để sử dụng nhiên liệu đạt tiêu chuẩn Euro 4 hoặc Euro 5, trong khi trên thực tế không ít người vẫn chưa quan tâm đúng mức tới yếu tố này. Việc lựa chọn đúng loại nhiên liệu, kết hợp bảo dưỡng định kỳ sẽ góp phần bảo đảm hiệu quả vận hành và tuổi thọ của phương tiện khi sử dụng xăng E10 cũng như các loại nhiên liệu khác.

Xăng dầu là "mạch máu" của nền kinh tế

-Những lợi ích của xăng E10 đã được các chuyên gia phân tích khá rõ. Bên cạnh đó, nhiều băn khoăn, lo ngại của người tiêu dùng cũng phần nào được giải đáp. Nhân thời điểm xăng E10 chính thức được áp dụng trên toàn quốc từ hôm nay, các vị khách mời có điều gì muốn gửi gắm tới người tiêu dùng? Đồng thời, việc pha chế, vận chuyển và kiểm soát chất lượng xăng E10 có được thực hiện theo những quy định nghiêm ngặt hay không? Xin được mời ông Đào Duy Anh.

Ông Đào Duy Anh: Xăng dầu có thể xem là "mạch máu" của nền kinh tế. Vì vậy, người tiêu dùng có thể hoàn toàn yên tâm rằng không một Chính phủ nào, dù vì mục tiêu môi trường hay kinh tế, lại cho phép đưa một loại nhiên liệu không bảo đảm chất lượng vào lưu thông trên thị trường.

Như tôi đã đề cập ở phần đầu chương trình, chất lượng xăng dầu hiện nay được kiểm soát rất chặt chẽ theo các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, mới nhất là QCVN 01:2026/BKHCN sửa đổi QCVN 01:2022. Các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng chính quyền các địa phương đều có lực lượng chuyên trách thực hiện công tác kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm chất lượng xăng dầu luôn tuân thủ đúng các quy chuẩn kỹ thuật đã ban hành.

Do đó, người tiêu dùng hoàn toàn có thể yên tâm khi bước sang giai đoạn chuyển đổi sang một loại nhiên liệu được đánh giá là sạch hơn và tiên tiến hơn. Tất nhiên, khi chuyển từ một loại nhiên liệu đã quen sử dụng sang một loại nhiên liệu mới, việc xuất hiện những tâm tư, băn khoăn là điều dễ hiểu bởi mỗi loại nhiên liệu đều có những đặc tính riêng.

Điều quan trọng nhất là người dân có thể tin tưởng vào chất lượng nhiên liệu đã được cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát trước khi đưa ra thị trường. Bên cạnh đó, trong quá trình sử dụng phương tiện, người dân nên tham khảo hướng dẫn và khuyến cáo của nhà sản xuất đối với từng dòng xe cụ thể, đồng thời tuân thủ đầy đủ chế độ bảo dưỡng định kỳ.

Nếu thực hiện đúng các khuyến cáo của nhà sản xuất và duy trì việc bảo dưỡng phương tiện theo quy định, chúng tôi tin rằng những trục trặc phát sinh trong quá trình sử dụng sẽ được hạn chế ở mức thấp nhất.

Hàng chục triệu phương tiện đã sử dụng xăng E10

Xin cảm ơn những chia sẻ rất toàn diện và xác đáng của ông Đào Duy Anh. Thưa ông Đỗ Văn Tuấn, với tư cách Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, ông có điều gì muốn nhắn gửi tới người tiêu dùng trước những băn khoăn liên quan đến xăng E10 hiện nay?

Ông Đỗ Văn Tuấn: Trong khoảng 2-3 ngày gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện khá nhiều thông tin liên quan đến xăng E10. Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng việc phân phối và sử dụng loại nhiên liệu này đã được triển khai trên thực tế từ khá lâu.

Cụ thể, Petrolimex và PVOIL đã thí điểm phân phối xăng E10 từ tháng 8/2025. Đến ngày 15/5/2026, PVOIL triển khai phân phối trên toàn hệ thống và từ ngày 20/5/2026, Petrolimex cũng phân phối trên toàn hệ thống của doanh nghiệp.

Điều đó có nghĩa là hàng chục triệu ô tô, xe máy đã và đang sử dụng xăng E10 để lưu thông hằng ngày. Nếu loại nhiên liệu này thực sự gây ra những sự cố nghiêm trọng trên diện rộng thì chắc chắn hoạt động giao thông đã bị ảnh hưởng rõ rệt.

Trong thực tế, có thể xuất hiện một số trục trặc nhỏ ở một số phương tiện. Tuy nhiên, theo tôi, E10 không phải là nguyên nhân gây bệnh mà chính là yếu tố giúp phát hiện những vấn đề vốn đã tồn tại trong hệ thống nhiên liệu của xe. Khi đó, cách xử lý rất đơn giản, người sử dụng chỉ cần đưa xe đến các cửa hàng sửa chữa hoặc gara để kiểm tra, bảo dưỡng các bộ phận như đường ống dẫn nhiên liệu, kim phun và hệ thống cấp nhiên liệu là có thể khắc phục được.

Tôi cho rằng, so với những mục tiêu lớn mà Đảng và Chính phủ đang hướng tới thông qua việc phát triển và sử dụng nhiên liệu sinh học, thì những vấn đề kỹ thuật nhỏ như vậy là không đáng kể và hoàn toàn có thể xử lý được.

Lời kết dẫn chương trình: Đối với mỗi vấn đề mới hay một quyết sách mới, việc xuất hiện những ý kiến khác nhau, những băn khoăn, lo lắng trong dư luận là điều hoàn toàn dễ hiểu. Qua tọa đàm hôm nay, xin trân trọng cảm ơn những ý kiến trao đổi thẳng thắn, khách quan, đa chiều và giàu tính chuyên môn của các vị khách mời.

Những phân tích, chia sẻ tại chương trình đã góp phần giúp người tiêu dùng có cái nhìn đầy đủ và chính xác hơn về xăng E10, cũng như về mục tiêu phát triển và sử dụng nhiên liệu sinh học của Chính phủ. Đây không chỉ là giải pháp phù hợp với xu thế chuyển dịch năng lượng trên thế giới mà còn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế của Việt Nam về giảm phát thải khí nhà kính.

Lê An - Ngọc hoa