Đóng

Ứng dụng công nghệ số, nâng tầm thương hiệu chè Thái Nguyên

Việc tăng cường ứng dụng công nghệ số vào quá trình sản xuất, thương mại đang góp phần nâng cao giá trị, mở rộng thị trường, nâng tầm thương hiệu chè Thái Nguyên.

Đưa công nghệ vào sản xuất, chế biến chè

Theo số liệu từ Sở Công Thương tỉnh Thái Nguyên, toàn tỉnh Thái Nguyên hiện có trên 22.000ha chè, với hàng trăm sản phẩm đã đạt chứng nhận OCOP từ 3 đến 5 sao. Cây chè được xem là cây trồng chủ lực, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới của địa phương.

Trong những năm gần đây, khi những yêu cầu về minh bạch thông tin nguồn gốc, xuất xứ, kiểm soát chất lượng ngày càng tăng và thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ, ngành chè Thái Nguyên đang đứng trước nhu cầu tất yếu phải đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ số vào sản xuất, chế biến và thương mại sản phẩm chè.

Vườn chè của Hợp tác xã Trà an toàn Phú Đô do ông Hoàng Văn Tuấn làm chủ. Ảnh: Văn Tuấn

Một trong những mô hình tiêu biểu là Hợp tác xã Trà an toàn Phú Đô (xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên). Đầu năm 2022, hợp tác xã này được thành lập với 7 thành viên, hướng tới mục tiêu xây dựng thương hiệu trà sạch cho quê hương.

Hiện hợp tác xã sở hữu 27,2ha chè, trong đó có 5ha chè hữu cơ và 5ha chè sinh thái trung du cổ. Các sản phẩm chủ lực gồm trà búp, trà nõn, trà đinh, trà hoa, trà lá và nhân trần trà.

Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, ông Hoàng Văn Tuấn, Giám đốc Hợp tác xã Trà an toàn Phú Đô cho biết, cùng với sản xuất sạch, hợp tác xã đã mạnh dạn đầu tư công nghệ số vào quản lý và vận hành. Hệ thống tưới tự động được cài đặt điều khiển từ xa giúp giảm đáng kể nhân công và chi phí sản xuất.

Từ năm 2023, hợp tác xã bắt đầu sử dụng phần mềm Facefarm để quản lý toàn bộ quy trình sản xuất. Từ khâu chăm sóc, thu hoạch, chế biến đến đóng gói đều được lưu trữ bằng dữ liệu hình ảnh, video và kết nối trực tiếp với hệ thống quản trị.

Nhờ đó, người tiêu dùng chỉ cần quét mã QR trên bao bì là có thể theo dõi toàn bộ quy trình sản xuất sản phẩm”, ông Hoàng Văn Tuấn cho hay.

Phần mềm Facefarm (nhật ký sản xuất) được Hợp tác xã Trà an toàn Phú Đô sử dụng cung cấp thông tin chi tiết về quy trình sản xuất.

Cũng theo ông Hoàng Văn Tuấn, khi mọi thông tin về sản phẩm được công khai, minh bạch qua các ứng dụng số, niềm tin của khách hàng, đối tác tăng lên. Nhờ đó, giá trị sản phẩm chè của hợp tác chè cũng tăng giá trị (từ 200.000 đồng/kg chè búp khô lên 250.000 đồng/kg). Sản lượng chè búp khô xuất bán mỗi năm cũng tăng từ 27 tấn lên trên 30 tấn. Giá trị 1 ha đất canh tác chè đạt trên 600 triệu đồng/năm.

Không chỉ riêng ở hợp tác xã Phú Đô, nhiều hợp tác xã khác ở Thái Nguyên cũng đang tạo dấu ấn nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Hợp tác xã Chè an toàn Khe Cốc do nghệ nhân Tô Văn Khiêm điều hành cũng là một ví dụ điển hình.

Song song với việc kiên trì phát triển chè hữu cơ, Hợp tác xã Chè an toàn Khe Cốc đã mạnh dạn ứng dụng công nghệ vào sản xuất và chế biến. Từ hệ thống sao sấy, phân loại, đóng gói đến truy xuất nguồn gốc sản phẩm đều từng bước được số hóa, giúp nâng cao chất lượng và tính minh bạch của sản phẩm. Nhờ đó, nhiều sản phẩm chè của hợp tác xã đã đáp ứng tiêu chuẩn hữu cơ, được nhiều đối tác nước ngoài tiêu thụ.

“Nhờ ứng dụng công nghệ số vào các quá trình sản xuất, sản phẩm chè của chúng tôi giữ được chất lượng ở mức cao nhất. Đến nay, thương hiệu chè của chúng tôi đã được xuất khẩu sang Ba Lan, Hoa Kỳ và Cộng hòa Séc - những thị trường vốn nổi tiếng khắt khe về tiêu chuẩn chất lượng. Chúng tôi đã có 5 sản phẩm OCOP đạt từ 3 đến 4 sao và đang hướng tới sản phẩm OCOP 5 sao”, ông Tô Văn Khiêm, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Chè an toàn Khe Cốc cho hay.

Tăng cường quảng bá thương hiệu trên nền tảng số

Theo ông Vũ Văn Phán, Chủ tịch Hội Chè Thái Nguyên, mặc dù quá trình ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, chế biến chè và thúc đẩy thương mại số cho sản phẩm chè đang được đẩy mạnh, tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn cần phải giải quyết.

Ông Vũ Văn Phán cho rằng, rào cản lớn nhất hiện nay là nhận thức và kỹ năng số của người dân còn hạn chế. Phần đông người làm chè là người lớn tuổi, chưa quen sử dụng công nghệ, trong khi điều kiện tiếp cận internet ở một số khu vực còn hạn chế.

Bên cạnh đó là bài toán tài chính khi ứng dụng các công nghệ số vào sản xuất, chế biến và thương mại sản phẩm chè. Việc đầu tư thiết bị cảm biến, phần mềm quản lý hay thuê nhân sự kỹ thuật vượt quá khả năng của nhiều hợp tác xã quy mô nhỏ.

“Để tăng cường ứng dụng công nghệ số vào ngành chè, cần có sự vào cuộc đồng bộ từ nhiều phía. Nhà nước cần tiếp tục ban hành chính sách hỗ trợ chuyển đổi số trong nông nghiệp; các doanh nghiệp công nghệ cần phát triển ứng dụng thân thiện với nông dân và các hợp tác cần chủ động phối hợp với trường đại học, đơn vị đào tạo để nâng cao kỹ năng số cho người dân”, ông Vũ Văn Phán cho hay.

Về các giải pháp mang tính lâu dài để đẩy mạnh chuyển đổi số trong sản xuất, chế biến, thương mại sản phẩm chè Thái Nguyên, trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Dương Văn Hoàn, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Thái Nguyên cho biết, thời gian tới, ngành Công Thương sẽ tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ tiêu thụ và quảng bá thương hiệu chè Thái Nguyên trên môi trường số.

Ông Dương Văn Hoàn, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Thái Nguyên trong một cuộc phỏng vấn với phóng viên Báo Công Thương. Ảnh: Văn Thi

Sở Công Thương tỉnh Thái Nguyên sẽ tập trung hỗ trợ các hợp tác xã, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất chè ứng dụng thương mại điện tử, đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử uy tín; đồng thời tăng cường kết nối cung cầu, mở rộng hệ thống phân phối trong và ngoài nước.

Bên cạnh đó, phối hợp tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng kinh doanh số, livestream bán hàng, xây dựng thương hiệu và quảng bá sản phẩm trên nền tảng số cho các hợp tác xã chè, đặc biệt là các chủ thể OCOP.

Chúng tôi xác định chuyển đổi số trong hoạt động thương mại là giải pháp quan trọng giúp các sản phẩm chè Thái Nguyên nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ và tiếp cận tốt hơn với người tiêu dùng trong nước cũng như quốc tế”, ông Dương Văn Hoàn nhấn mạnh.

Khi áp lực cạnh tranh trên thị trường ngày càng lớn, chuyển đổi số không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với ngành chè Thái Nguyên. Công nghệ không làm mất đi giá trị truyền thống của sản phẩm mà ngược lại đang góp phần bảo tồn, lan tỏa và nâng tầm thương hiệu chè Thái Nguyên trên thị trường.

Phong Lâm