Đóng

Ứng phó phòng vệ thương mại: Chìa khóa giữ thị phần hàng Việt tại Hoa Kỳ

Hoa Kỳ tiếp tục gia tăng điều tra phòng vệ thương mại lên hàng hóa Việt Nam và nhiều nước khác. Việc chủ động thiết lập "lá chắn" phòng vệ trở thành yêu cầu cấp thiết.

Diện mạo mới của rào cản thương mại

Chiều 29/6, thông tin mới nhất tới phóng viên Báo Công Thương về tình hình xuất nhập khẩu giữa hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ cũng như các biện pháp phòng vệ thương mại mà nước này đang triển khai, ông Đỗ Ngọc Hưng, Tham tán thương mại, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ nhận định, đây là thời điểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với thương mại song phương.

Hoa Kỳ hiện tiếp tục giữ vững vị trí là thị trường xuất khẩu lớn nhất và có sức mua mạnh nhất, tạo ra tác động lan tỏa sâu rộng đối với toàn bộ chuỗi cung ứng toàn cầu của Việt Nam. Theo số liệu mới nhất của phía Hoa Kỳ, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước trong 4 tháng đầu năm 2026 đạt con số ấn tượng khoảng 76 tỷ USD, với cán cân thặng dư nghiêng về phía Việt Nam.

Tuy nhiên, theo ông Đỗ Ngọc Hưng, quy mô thặng dư thương mại lớn của Việt Nam với Hoa Kỳ tiếp tục là một tín hiệu tích cực về năng lực xuất khẩu trong nước; đồng thời đặt ra yêu cầu rất cao về quản trị rủi ro, cân bằng thương mại, kiểm soát xuất xứ, nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng trong nước và chủ động thích ứng với cách tiếp cận chính sách mới của Hoa Kỳ.

Theo số liệu từ phía Hoa Kỳ, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước trong 4 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 76 tỷ USD. Ảnh: Ngọc Khôi

Đáng chú ý, Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ cho biết, trong Quý II/2026, môi trường thương mại tại Hoa Kỳ đang chứng kiến những biến động nhanh chóng và phức tạp khi nước này có xu hướng sử dụng đồng thời nhiều công cụ chính sách cùng lúc. Thay vì chỉ áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đơn thuần, Hoa Kỳ đã gắn chặt thương mại với an ninh kinh tế và các tiêu chuẩn phi truyền thống.

Cụ thể, các công cụ điều tra đang được gia tăng mạnh mẽ bao gồm Mục 301 tập trung vào các hành vi thương mại không công bằng như lao động cưỡng bức, sản xuất dư thừa công suất và thực thi sở hữu trí tuệ; Mục 232 về an ninh kinh tế và đặc biệt là Mục 122 cho phép áp mức thuế 10% với tất cả hàng hóa nhập khẩu vào nước này... đang tạo ra một áp lực chưa từng có đối với các đối tác thương mại.

“Những vụ việc này không còn đơn thuần tác động đến một ngành hàng cụ thể mà phản ánh cách tiếp cận tổng thể mới của Hoa Kỳ đó là việc ưu tiên chuỗi cung ứng chiến lược và cạnh tranh công bằng theo tiêu chuẩn của họ. Việc mở rộng rà soát chính sách đối với các lĩnh vực như thép, nhôm, đồng, chip, dược phẩm và thiết bị công nghiệp cho thấy mọi mắt xích trong chuỗi cung ứng đều có thể lọt vào tầm ngắm điều tra”, Tham tán thương mại Đỗ Ngọc Hưng thông tin..

Theo thương vụ, Hoa Kỳ đang tiếp tục mở rộng rà soát chính sách thương mại đối với hàng hóa Việt Nam và nhiều nước khác. Một trong những tín hiệu cần được theo dõi sát sao nhất hiện nay là nguy cơ điều tra đối với ngành thủy sản.

Đã xuất hiện những kiến nghị từ các tổ chức ngành hàng và một số nghị sĩ Hoa Kỳ đề nghị Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) xem xét điều tra các hành vi thương mại không công bằng trong lĩnh vực này”, Tham tán thương mại Đỗ Ngọc Hưng thông tin và khuyến nghị, thủy sản là nhóm hàng xuất khẩu quan trọng hàng đầu của Việt Nam, vì vậy cần theo dõi sao vụ việc này.

Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ làm việc với các đối tác thúc đẩy kết nối giao thương, bảo vệ lợi ích doanh nghiệp. Ảnh: Ngọc Hưng

Đáng lưu ý, ông Hưng cảnh báo, tính đến thời điểm hiện nay, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường có tần suất điều tra phòng vệ thương mại rất cao đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Các vụ việc liên quan đến gạch ốp lát, máy nén khí di động, gỗ dán, thép, thủy sản và một số mặt hàng công nghiệp khác cho thấy doanh nghiệp Việt Nam không chỉ cạnh tranh về giá và chất lượng, mà còn phải cạnh tranh về năng lực tuân thủ, minh bạch hồ sơ, khả năng giải trình dữ liệu và quản trị chuỗi cung ứng.

Từ các diễn biến trên, Tham tán thương mại Đỗ Ngọc Hưng cho rằng: “yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là “bán được hàng” vào thị trường Hoa Kỳ mà phải chuyển sang cách tiếp cận phát triển thị trường có quản trị rủi ro, gắn xúc tiến thương mại với cảnh báo chính sách, hỗ trợ tuân thủ, xây dựng năng lực cạnh tranh dài hạn và giảm thiểu khả năng bị áp dụng các biện pháp bất lợi”.

Xây dựng năng lực cạnh tranh dài hạn

Mặc dù rủi ro chính sách gia tăng, song Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ cho rằng, thị trường này vẫn còn nhiều dư địa cho hàng hóa Việt Nam nếu doanh nghiệp xuất khẩu tổ chức tiếp cận bài bản hơn. Bởi, nhu cầu tiêu dùng của Hoa Kỳ đối với các nhóm hàng thế mạnh của Việt Nam như dệt may, da giày, đồ gỗ, điện tử và nông sản chế biến vẫn rất lớn. Chưa kể, xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng khỏi các khu vực rủi ro vẫn đang tạo ra cơ hội vàng để Việt Nam thu hút đơn hàng và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, miễn là chúng ta đáp ứng được các “luật chơi” mới.

Để thích ứng với hoàn cảnh mới, Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ lưu ý, dư địa tăng trưởng trong giai đoạn tới sẽ không đến từ việc tăng sản lượng theo chiều rộng. Thay vào đó, thành bại của doanh nghiệp phụ thuộc vào ba yếu tố cốt lõi: nâng cấp chất lượng sản phẩm; nâng cao năng lực tuân thủ pháp luật sở tại; và xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch có khả năng truy xuất, giải trình. Đây là một thách thức không nhỏ, đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn thường thiếu thông tin sớm về các thay đổi chính sách.

Chính vì vậy, Thương vụ đã và đang tập trung vào các nhóm công việc trọng tâm để làm “lá chắn” cho doanh nghiệp như xúc tiến có trọng tâm, trọng điểm; nâng cao năng lực cảnh báo sớm; chủ động cập nhật thông tin thị trường...

Riêng về phòng vệ thương mại, ông Đỗ Ngọc Hưng khuyến cáo, việc thiết lập một hệ thống phòng vệ chủ động là con đường duy nhất để giữ vững thị phần tại thị trường này. Một trong những định hướng ưu tiên là tiếp tục triển khai và tận dụng tối đa hệ thống cảnh báo sớm về phòng vệ thương mại để gắn trực tiếp với hoạt động của doanh nghiệp.

“Đối với một thị trường mà chính sách có thể thay đổi rất nhanh như Hoa Kỳ, việc nhận thông tin kịp thời sẽ giúp doanh nghiệp giảm bớt chi phí tuân thủ và tránh được những cú sốc thương mại đáng tiếc. Các ngành hàng có nguy cơ cao như thép, nhôm, dệt may và nông sản chế biến cần được củng cố cơ chế cảnh báo nhanh theo nhóm ngành cụ thể”, Tham tán thương mại Đỗ Ngọc Hưng cảnh báo.

Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh các nền tảng số để phát triển thị trường nước ngoài là vô cùng cần thiết. Thông qua hệ thống này, các doanh nghiệp, hiệp hội và cơ quan quản lý có thể tiếp cận nguồn thông tin cập nhật, chính xác về danh sách nhà nhập khẩu, yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật và các cảnh báo rủi ro do các cơ quan thương vụ chia sẻ.

Một giải pháp mang tính chiến lược khác là phải gắn xúc tiến xuất khẩu với mục tiêu cân bằng thương mại song phương. Việt Nam cần tiếp tục khuyến khích nhập khẩu các mặt hàng mà Hoa Kỳ có thế mạnh như năng lượng, máy móc thiết bị công nghệ cao và nông sản nguyên liệu.

Sau cùng, đối với chính các địa phương và doanh nghiệp, thông điệp quan trọng nhất là cần chuyển đổi tư duy sang “xây dựng năng lực cạnh tranh dài hạn”. Thay vì tìm cách tối đa hóa lợi nhuận ngắn hạn thông qua giá rẻ, doanh nghiệp cần đầu tư mạnh mẽ vào thương hiệu, bao bì, chứng nhận quốc tế và đặc biệt là năng lực phản ứng với các cuộc điều tra thương mại.

Tham tán thương mại Đỗ Ngọc Hưng nhấn mạnh, việc chủ động làm việc với nhà nhập khẩu Hoa Kỳ để xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc nguyên liệu đầu vào sẽ là “giấy thông hành” quan trọng nhất để hàng hóa Việt Nam tiến sâu và ở lại lâu dài tại thị trường khó tính nhưng đầy tiềm năng này.

Hoàng Hòa