Tồn tại tư duy "làm thị trường trước, xử lý rủi ro sau"
Trong những năm gần đây, xu hướng gia tăng các biện pháp phòng vệ thương mại trên toàn cầu, cùng với sự dịch chuyển chuỗi cung ứng và hiện tượng lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại ngày càng tinh vi, đã tạo ra áp lực lớn đối với các cơ quan điều tra.
Thống kê của Văn phòng Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế cho thấy, tính đến ngày 30/3/2026 Việt Nam đã ứng phó và xử lý 306 vụ việc do nước ngoài điều tra, trong đó tập trung nhiều nhất ở các ngành sắt thép, nhựa, gỗ và sợi. Các thị trường điều tra lớn tiếp tục là Hoa Kỳ, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Canada và EU.
Ngày 16/4, chia sẻ rõ hơn với báo chí về bức tranh toàn cảnh của công tác phòng vệ thương mại, ông Chu Thắng Trung, Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại cho biết, những năm gần đây, sự gia tăng các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam hiện nay đã trở thành một đặc điểm mang tính cấu trúc, chứ không còn là hiện tượng nhất thời.
Phân tích cụ thể nguyên nhân, ông Chu Thắng Trung chỉ rõ, trước hết, xuất hiện tình trạng tăng trưởng xuất khẩu quá nhanh vào một thị trường trong thời gian ngắn, đặc biệt khi giá bán giảm thấp hoặc thị phần tăng đột biến. Đối với cơ quan điều tra nước ngoài, đây thường là tín hiệu để họ xem xét khả năng có hành vi bán phá giá hoặc gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa của họ.
Thứ hai, năng lực quản trị hồ sơ, dữ liệu kế toán, truy xuất nguồn gốc và tuân thủ chuỗi cung ứng của không ít doanh nghiệp còn hạn chế. Khi bị yêu cầu cung cấp dữ liệu về giá thành, chi phí, cấu trúc giao dịch, xuất xứ nguyên liệu, tỷ lệ nội địa hóa hay quan hệ liên kết, nhiều doanh nghiệp chuẩn bị không kịp, số liệu thiếu nhất quán hoặc không đáp ứng đúng chuẩn mà cơ quan điều tra yêu cầu.
Ông Chu Thắng Trung, Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại cho rằng, một số doanh nghiệp tồn tại tư duy “làm thị trường trước, xử lý rủi ro sau”. Ảnh: Bảo Thoa
Thứ ba, tư duy “làm thị trường trước, xử lý rủi ro sau” của một bộ phận doanh nghiệp.
“Doanh nghiệp thường chưa coi phòng vệ thương mại là một nội dung quản trị rủi ro bắt buộc. Doanh nghiệp ký hợp đồng xuất khẩu nhưng chưa đánh giá đầy đủ về nguy cơ pháp lý của thị trường, chưa theo dõi các mặt hàng tương tự đang bị áp thuế với nước thứ ba và chưa xây dựng hệ thống lưu trữ chứng từ đủ mạnh để sẵn sàng giải trình”, lãnh đạo Cục Phòng vệ thương mại chỉ rõ.
“Chính những khoảng trống đó khiến doanh nghiệp dễ rơi vào thế bị động khi có vụ việc phát sinh. Trong bối cảnh các nước gia tăng giám sát thương mại, năng lực tuân thủ thực chất đã trở thành một phần của năng lực cạnh tranh”, ông Chu Thắng Trung nhận định.
Chuyển tư duy xử lý sang quản trị rủi ro
Đồng hành, hỗ trợ, bảo vệ lợi ích doanh nghiệp Việt Nam trong giao thương quốc tế, thời gian qua, Cục Phòng vệ thương mại đã ưu tiên triển khai và phát huy hiệu quả từ hệ thống cảnh báo sớm.
Ông Trung cho biết, hệ thống cảnh báo sớm của Cục Phòng vệ thương mại hiện nay đã chuyển từ tư duy bị động sang tư duy quản trị rủi ro chuỗi cung ứng. Cục đã triển khai hệ thống cảnh báo sớm đối với các mặt hàng có nguy cơ bị điều tra hoặc bị xem xét về hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại, gian lận xuất xứ và chuyển tải bất hợp pháp.
Hệ thống này được xây dựng theo hướng định kỳ cảnh báo các nhóm sản phẩm và thị trường có rủi ro cao, đồng thời cập nhật danh mục cảnh báo để doanh nghiệp theo dõi. Trước đây, cục đã từng cảnh báo định kỳ đối với khoảng 30 nhóm sản phẩm tại các thị trường. Hiện nay, việc cảnh báo tiếp tục được cập nhật thông qua các thông báo chuyên đề và Bản tin Phòng vệ thương mại và Cảnh báo sớm hàng tuần của Cục.
Điểm quan trọng là cảnh báo hiện không chỉ dừng ở việc “nêu tên mặt hàng” mà đi kèm cả các dấu hiệu rủi ro cụ thể. Cơ quan quản lý cũng lưu ý rất rõ nguy cơ khi doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu hoặc cấu phần chính nhập khẩu từ các thị trường đang bị áp thuế, rồi gia công tại Việt Nam để xuất sang thị trường thứ ba.
Hệ thống cảnh báo sớm của Cục Phòng vệ thương mại hiện nay đã chuyển từ tư duy bị động sang tư duy quản trị rủi ro chuỗi cung ứng.
Bên cạnh cảnh báo, Cục Phòng vệ thương mại cũng phối hợp chặt chẽ với các hiệp hội, các thương vụ Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng doanh nghiệp để tập huấn về cách lưu trữ hồ sơ truy xuất, rà soát nguồn nguyên liệu và chuẩn hóa chứng từ xuất xứ. Qua đó, giúp doanh nghiệp chủ động phòng ngừa từ sớm. Mục tiêu không chỉ là xử lý khi vụ việc xảy ra, mà còn hỗ trợ doanh nghiệp tự phòng ngừa và tránh bị cuốn vào các vòng xoáy điều tra “liên đới” ngay từ đầu.
Đưa ra khuyến nghị cho doanh nghiệp trước bão phòng vệ, Phó Cục trưởng Chu Thắng Trung nhấn mạnh, điều quan trọng nhất là phải chuyển từ tư duy “xử lý vụ việc” sang tư duy “quản trị rủi ro phòng vệ thương mại”.
Điều này có nghĩa là ngay từ khi xây dựng kế hoạch xuất khẩu, doanh nghiệp phải xem xét cả yếu tố pháp lý của thị trường, diễn biến điều tra đối với các sản phẩm tương tự, mức độ phụ thuộc vào một thị trường, cơ cấu nguồn nguyên liệu và khả năng bị nghi ngờ lẩn tránh. Nếu xuất khẩu tăng quá nhanh vào một thị trường hoặc phụ thuộc quá lớn vào một nhóm khách hàng, rủi ro sẽ tăng lên đáng kể.
Về chuỗi cung ứng, doanh nghiệp cần đầu tư mạnh hơn cho truy xuất nguồn gốc, minh bạch hóa nguyên liệu đầu vào, nâng tỷ lệ nội địa hóa thực chất và sàng lọc đối tác cung ứng. Trong bối cảnh các vụ việc chống lẩn tránh ngày càng gia tăng, “sản xuất tại Việt Nam” không chỉ là nhãn mác mà phải được chứng minh bằng dữ liệu, quy trình và giá trị gia tăng thực chất.
Về chiến lược giá, doanh nghiệp cũng không nên theo đuổi cạnh tranh bằng giá thấp bằng mọi giá. Trong nhiều trường hợp, giá xuất khẩu giảm quá thấp, tăng trưởng quá nhanh nhưng hồ sơ chi phí không đủ mạnh sẽ dễ tạo điều kiện cho nguyên đơn nước ngoài khởi kiện. Do đó, cần chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng, tiêu chuẩn, tiến độ giao hàng, dịch vụ và độ tin cậy, thay vì chỉ cạnh tranh bằng giá.
Đồng thời, các hiệp hội cần đóng vai trò đầu mối hơn nữa trong việc chia sẻ dữ liệu ngành, phổ biến cảnh báo sớm, tổ chức tập huấn và kết nối doanh nghiệp với cơ quan quản lý. Khi doanh nghiệp, hiệp hội và cơ quan nhà nước hình thành được cơ chế phối hợp thường xuyên, bài bản, thì năng lực phòng vệ của toàn ngành sẽ được nâng cao.
Tính đến ngày 30/3/2026 Việt Nam đã ứng phó và xử lý 306 vụ việc do nước ngoài điều tra, trong đó tập trung nhiều nhất ở các ngành sắt thép, nhựa, gỗ và sợi. Các thị trường điều tra lớn tiếp tục là Hoa Kỳ, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Canada và EU.