Trong thương mại quốc tế, không ít sản phẩm có cùng thành phần hóa học nhưng được sử dụng cho nhiều lĩnh vực. Tùy tiêu chuẩn kỹ thuật, cấp chất lượng, quy cách đóng gói và mục đích tiêu dùng, mỗi lô hàng có thể chịu chính sách chuyên ngành khác nhau.
Urê là trường hợp điển hình. Một mặt, urê vốn là phân đạm phổ biến trong nông nghiệp; mặt khác, sản phẩm còn được dùng để sản xuất keo, chế biến gỗ, tổng hợp nhựa, xử lý khí thải và phục vụ một số ngành công nghiệp.
Urê vừa là đầu vào của ngành phân bón, vừa phục vụ những lĩnh vực sản xuất khác, trong đó có công nghiệp keo.
Vì đặc tính đa công dụng, đã tạo ra yêu cầu phải nhận diện chính xác mục đích sử dụng khi làm thủ tục nhập khẩu. Nếu tiêu chí chưa đủ cụ thể, cả doanh nghiệp lẫn cơ quan thực thi đều gặp khó cho việc lựa chọn chính sách phù hợp.
Cần xác định rõ mục đích sử dụng
Tại Công văn số 22825/CHQ-GSQL gửi Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) mới đây, Cục Hải quan đã đề nghị hướng dẫn cách áp dụng quy định chuyên ngành đối với lô urê do Công ty TNHH Tổng hợp Yuan Da nhập khẩu.
Theo hồ sơ, sản phẩm ở dạng hạt, hàm lượng khai báo 99,3%, mã HS 3102.10.00, được mở tờ khai theo loại hình nhập kinh doanh tiêu dùng. Công ty cho biết, nguyên liệu sẽ được sử dụng trong quá trình sản xuất keo và nhựa công nghiệp.
Tuy nhiên, đơn vị đứng tên nhập khẩu là doanh nghiệp thương mại, không trực tiếp đưa urê vào dây chuyền chế biến. Sau khi hoàn tất thủ tục, lô nguyên liệu dự kiến tiếp tục được bán hoặc chuyển giao cho một chủ thể khác. Vì vậy, cơ quan hải quan cần thêm căn cứ để xác định đích đến và công năng thực tế của sản phẩm.
Phiếu an toàn hóa chất do công ty cung cấp thể hiện thành phần chính là urea, còn gọi là Carbamide, mã CAS 57-13-6, hàm lượng trên 99%. Chứng thư giám định số Q326D115440 ngày 18/9/2026 của Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 3 xác định đây là urê dạng hạt, không ở dạng dung dịch nước, với tỷ lệ urê 99%.
Kết quả giám định đồng thời chỉ ra hai nhóm công dụng. Trong nông nghiệp, sản phẩm có thể làm phân bón, bổ sung dinh dưỡng cho cây trồng. Ở lĩnh vực công nghiệp, nguyên liệu này có khả năng tham gia sản xuất keo UF, keo MUF, chất dẻo, vật liệu xây dựng, sản phẩm gỗ hoặc dung dịch phục vụ xử lý khí thải và môi trường.
Như vậy, chứng thư phù hợp với nội dung doanh nghiệp khai báo, song chưa loại trừ khả năng sản phẩm được đưa vào lĩnh vực trồng trọt. Đây là cơ sở để Cục Hải quan đề nghị cơ quan chuyên môn làm rõ lô hàng có thuộc đối tượng phải xin giấy phép nhập khẩu phân bón và kiểm tra nhà nước về chất lượng hay không?.
Theo khoản 1 Điều 36 Luật Trồng trọt, phân bón là mặt hàng kinh doanh có điều kiện và về nguyên tắc phải được cấp quyết định công nhận lưu hành tại Việt Nam. Điều 44 Luật Trồng trọt, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 146/2025/QH15, quy định việc nhập khẩu phân bón đã được công nhận lưu hành và những trường hợp sản phẩm chưa được công nhận phải có giấy phép.
Phân bón đưa từ nước ngoài vào Việt Nam cũng thuộc diện kiểm tra nhà nước về chất lượng, trừ một số trường hợp được pháp luật miễn trừ.
Đối chiếu các quy định trên, vấn đề trọng tâm không nằm ở tên gọi "urê", mà ở việc lô hàng có được nhập khẩu, phân phối và sử dụng như phân bón hay không. Nếu chỉ căn cứ vào thành phần hóa học hoặc mã HS, urê phục vụ sản xuất công nghiệp có thể bị áp dụng thủ tục tương tự vật tư nông nghiệp. Ngược lại, nếu hoàn toàn dựa vào nội dung khai báo, cơ quan chức năng có thể gặp khó khi kiểm soát quá trình chuyển giao sau đó.
Đối với urê, đây vừa là đầu vào của ngành phân bón, vừa phục vụ những lĩnh vực sản xuất khác, trong đó có công nghiệp keo. Từ thực tiễn nêu trên, việc xác định chính sách cần dựa trên một tổ hợp căn cứ, thay vì riêng tên thương mại hoặc hàm lượng. Những yếu tố có thể được xem xét gồm tiêu chuẩn kỹ thuật, cấp chất lượng, quy cách bao gói, nội dung nhãn, hợp đồng mua bán, hồ sơ giao nhận và thông tin về đơn vị sử dụng cuối cùng.
Trường hợp tổ chức trực tiếp nhập nguyên liệu để sản xuất, mục đích sử dụng có thể được chứng minh qua dây chuyền, công suất nhà máy, định mức tiêu hao và sản phẩm đầu ra. Nếu đơn vị đứng tên tờ khai chỉ thực hiện hoạt động thương mại, hồ sơ cần bổ sung thông tin về khách hàng, địa điểm giao hàng và ngành nghề của bên tiếp nhận.
Cách tiếp cận theo chuỗi sử dụng giúp cơ quan nhà nước nhận diện đúng đối tượng cần kiểm soát, đồng thời tạo cơ sở để doanh nghiệp chuẩn bị chứng từ ngay từ khi ký hợp đồng nhập khẩu.
Kết hợp tiền kiểm với hậu kiểm
Với nguyên liệu đa mục đích, biện pháp giám sát cần tương xứng với mức độ rủi ro. Tiền kiểm có vai trò ngăn chặn sớm những lô hàng không đáp ứng yêu cầu, trong khi hậu kiểm hỗ trợ xác minh quá trình phân phối và sử dụng sau khi sản phẩm đã được thông quan.
Trong các góp ý về cải cách kiểm tra chuyên ngành, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) từng đề xuất áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro, phân loại mặt hàng, mở rộng cơ chế hậu kiểm đối với nhóm phù hợp và tăng chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan chuyên môn với hải quan. Đối với lĩnh vực phân bón, yêu cầu bảo đảm chất lượng và bảo vệ người sử dụng vẫn phải được đặt đúng mức.
Phát biểu tại hội thảo "Phân bón giả - Nhận diện, ngăn chặn và xử lý" do Hiệp hội Phân bón Việt Nam tổ chức ngày 16/10, ông Nguyễn Văn Luyện, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem) đề xuất tiếp tục hoàn thiện quy định về lưu hành sản phẩm, tăng cường hậu kiểm tại những cơ sở có dấu hiệu vi phạm hoặc phát sinh phản ánh. Theo đại diện Vinachem, kiểm soát hiệu quả sẽ góp phần bảo vệ nông dân và duy trì môi trường cạnh tranh bình đẳng.
Từ những định hướng này, urê nhập khẩu phục vụ công nghiệp có thể được phân luồng theo lịch sử tuân thủ của doanh nghiệp, mức độ đầy đủ của hồ sơ và khả năng xác định người sử dụng cuối cùng.
Đơn vị có quá trình chấp hành tốt, cung cấp được hợp đồng đầu ra, thông tin khách hàng và chứng từ phù hợp có thể được xem xét theo cơ chế thuận lợi hơn. Sau thông quan, cơ quan chức năng kiểm tra việc phân phối thông qua hóa đơn, hợp đồng, chứng từ vận chuyển và lượng nguyên liệu thực tế đưa vào sản xuất.
Đối với lô hàng có thông tin chưa rõ ràng, không xác định được đầu ra hoặc bên mua không có hoạt động sản xuất tương ứng, biện pháp kiểm tra tại cửa khẩu cần được áp dụng ở mức phù hợp. Nếu sản phẩm khai báo làm nguyên liệu công nghiệp sau đó được chuyển sang kinh doanh như phân bón, tổ chức liên quan phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chuyên ngành và chịu trách nhiệm về nội dung khai báo.
Việc Cục Hải quan đề nghị Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho ý kiến nhằm bổ sung căn cứ xử lý lô hàng, đồng thời tham khảo cho những trường hợp tương tự. Trên cơ sở hướng dẫn của cơ quan chuyên ngành, doanh nghiệp có thể chủ động chuẩn bị hồ sơ, chứng từ phù hợp với mục đích nhập khẩu; cơ quan hải quan cũng thuận lợi hơn trong quá trình xem xét, giải quyết thủ tục. Sự phối hợp và trao đổi thông tin giữa các đơn vị liên quan sẽ góp phần bảo đảm urê nhập khẩu được sử dụng đúng mục đích, đáp ứng yêu cầu quản lý và tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.