Đóng

VEFTA mở cửa vào bốn nền kinh tế dẫn đầu đổi mới

Ký ngày 18/10/2026 sau 14 năm đàm phán, VEFTA nối Việt Nam với Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland, Liechtenstein.

Tháng 12/2025, tại Hội thảo công bố báo cáo đánh giá tác động của Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và khối EFTA, bà Trần Thị Ngọc Dung nêu một câu hỏi rất cụ thể. Bà là Giám đốc một doanh nghiệp siêu nhỏ, đang muốn đưa nhãn lồng Hưng Yên sang Thụy Sĩ. “Có tổ chức, chuyên gia nào giúp doanh nghiệp siêu nhỏ như chúng tôi có thể nâng cấp quy trình sản xuất để đáp ứng tiêu chuẩn của Thụy Sĩ không?", bà hỏi.

Đoàn Việt Nam cùng các Bộ trưởng EFTA trong đợt kết thúc đàm phán Hiệp định, tháng 6/2026.

Mười tháng sau, ngày 18/10/2026, dưới sự chứng kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng và đại diện 4 nước thành viên Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) đã chính thức ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EFTA (VEFTA). Đó là FTA thứ 18 của Việt Nam, khép lại 21 phiên đàm phán trải dài 14 năm.

Đại diện các nước EFTA tham gia ký kết gồm Tổng thống Liên bang Thụy Sĩ, Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Giáo dục và Nghiên cứu Guy Parmelin; Thủ tướng kiêm Bộ trưởng phụ trách các vấn đề Chính phủ và Tài chính Liechtenstein Brigitte Haas; Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Iceland Þorgerður Katrín Gunnarsdóttir và Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao Na Uy Astrid Bergmål.

Chữ ký ngày hôm nay đã trả lời câu hỏi cho các nhà đàm phán. Nhưng câu hỏi của bà Dung thì vẫn còn đó. Nó cũng là câu hỏi của cả Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam - EFTA: cửa đã mở, ai sẽ đi qua được?

Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Thụy Sĩ có trước cả quan hệ ngoại giao gần một thế kỷ. Bài viết nhân 50 năm quan hệ hai nước đăng trên Báo Nhân Dân ngày 08/10/2021 kể lại: từ nửa sau thế kỷ XIX, các công ty Thụy Sĩ như Diethelm và Biedermann đã đặt nền móng cho quan hệ kinh doanh, phần lớn người Thụy Sĩ sống ở Việt Nam khi ấy làm thương mại, kỹ thuật hoặc nông nghiệp. Người được biết đến nhiều nhất là nhà vi khuẩn học gốc Thụy Sĩ Alexandre Yersin, người phát hiện vi khuẩn gây bệnh dịch hạch và để lại di sản khoa học, y tế, nông nghiệp còn lan toả tới hôm nay.

Năm 1954, Thụy Sĩ là nơi lịch sử Việt Nam rẽ sang một trang khác. Hội nghị Genève về Đông Dương họp trên đất nước trung lập này. Theo bài viết trên Báo Nhân Dân, chính vị thế trung lập của Thụy Sĩ đã tạo điều kiện để nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lần đầu tiên bước vào ngoại giao đa phương. Trước hội nghị, trong bài "Những quả bom chính trị" (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 8, tr. 432), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc tới việc các nước lớn phải tán thành mở một hội nghị ở Genève để "tìm cách hòa giải" các vấn đề ở châu Á, trong đó có vấn đề Việt Nam.

Mười bảy năm sau, ngày 11/10/1971, Thụy Sĩ trở thành một trong những nước phương Tây đầu tiên lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Na Uy theo sau sáu tuần, ngày 25/11/1971. Năm 1973, khi chiến tranh chưa dứt, Đại sứ quán Thụy Sĩ đầu tiên ở Hà Nội mở tại khách sạn Metropole. Từ năm 1992 tới nay, Thụy Sĩ đã dành cho Việt Nam hơn 800 triệu USD vốn ODA.

Lịch sử khép một vòng tròn khá lạ. Ngày 8/9/2025, đàm phán VEFTA được khởi động lại sau nhiều năm gián đoạn. Nơi khởi động lại chính là Geneva. 71 năm trước, người Việt tới thành phố này để giành lại hoà bình. Nhưng năm 2025, người Việt Nam tới Geneva để đàm phán về thuế quan, quy tắc xuất xứ, sở hữu trí tuệ. Năm phiên sau, ngày 2/7/2026, các bên đã ra Tuyên bố chung kết thúc đàm phán FTA giữa Việt Nam - EFTA.

Thời gian trôi qua, thời thế đổi thay, nhưng tinh thần rộng mở, sẵn sàng hợp tác của Việt Nam với bạn bè quốc tế thì vẫn vẹn nguyên. Tháng 12/1946, trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”, trong đó “nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình” (Hồ Chí Minh Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 4, tr. 523).

Tròn 80 năm sau, tinh thần ấy được cụ thể hóa bằng một hiệp định thương mại tự do với bốn nền kinh tế phát triển hàng đầu châu Âu. Đây đều là những quốc gia giàu vốn, mạnh về công nghệ, trong đó Thụy Sĩ và Na Uy thuộc nhóm dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, tài chính và kỹ thuật.

Thực tế, ngay cả khi chưa có Hiệp định, phần lớn hàng công nghiệp và thủy sản của Việt Nam xuất sang các nước EFTA đã được hưởng thuế suất 0%. Với VEFTA, các nước EFTA cam kết tiếp tục duy trì việc xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu đối với hàng công nghiệp và thủy sản có xuất xứ Việt Nam ngay khi Hiệp định có hiệu lực.

Cụm từ “tiếp tục duy trì” chính là điểm mấu chốt cần được quan tâm trong VEFTA. Cái mới không nằm ở mức thuế 0%, mà ở chỗ mức thuế ấy được “khóa” lại thành cam kết ràng buộc trong một điều ước quốc tế, không thể bị rút lại tùy ý. Với doanh nghiệp, đó là sự bảo đảm về tính ổn định và khả năng dự báo, điều quan trọng không kém bản thân mức ưu đãi.

Ở chiều ngược lại, phần lớn thuế nhập khẩu của Việt Nam đối với hàng công nghiệp và thủy sản từ EFTA sẽ được cắt giảm, xóa bỏ theo lộ trình tối đa 11 năm; phô mai, cà phê, sô cô la, thực phẩm cho trẻ em về 0% trong tối đa 16 năm. Hàng nhập khẩu từ khối này chủ yếu phục vụ sản xuất trong nước, gồm máy móc thiết bị, sản phẩm điện - cơ khí, hóa chất, nguyên liệu thủy sản và dược phẩm. Vì vậy, việc giảm thuế nhập khẩu cũng đồng nghĩa với hạ chi phí đầu vào cho doanh nghiệp sản xuất. Riêng cá hồi Na Uy, hiện chịu thuế 10% với cá nguyên con và 15% với phi lê, sẽ được miễn thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực.

Nếu ưu đãi thuế mới cho hàng Việt không lớn, giá trị của Hiệp định nằm ở đâu? Câu trả lời đã được viết từ hơn hai trăm năm trước.

Năm 1817, trong chương "Về ngoại thương" của cuốn Những nguyên lý của kinh tế chính trị và thuế khoá, David Ricardo viết rằng trong một hệ thống thương mại hoàn toàn tự do, mỗi nước tự nhiên dồn vốn và lao động vào những ngành có lợi nhất cho mình; bằng cách khuyến khích sản xuất, thưởng cho óc sáng tạo và dùng hiệu quả nhất những năng lực riêng mà tự nhiên ban cho, thương mại phân bổ lao động hiệu quả và tiết kiệm nhất (lược dịch từ nguyên bản tiếng Anh).

Năm 1817, trong chương “Về ngoại thương” của tác phẩm Những nguyên lý của kinh tế chính trị và thuế khóa, David Ricardo viết rằng, trong một hệ thống thương mại hoàn toàn tự do, mỗi nước sẽ tự nhiên dồn vốn và lao động vào những ngành có lợi nhất cho mình. Bằng cách khuyến khích sản xuất, khen thưởng óc sáng tạo và sử dụng hiệu quả nhất những năng lực riêng mà tự nhiên ban tặng, thương mại giúp phân bổ lao động một cách hiệu quả và tiết kiệm nhất (lược dịch từ nguyên bản tiếng Anh).

Ricardo minh họa bằng rượu vang của Bồ Đào Nha và vải của nước Anh. Ở thế kỷ XXI, ví dụ ấy có thể là dược phẩm, thiết bị chính xác và tài chính của Thụy Sĩ; năng lượng sạch, hàng hải và hải sản của Na Uy; còn Việt Nam là năng lực sản xuất, lực lượng lao động dồi dào cùng mạng lưới FTA rộng khắp. Báo Nhân Dân số ra ngày 15/10/2026 đã tóm gọn thế bổ trợ ấy: Thụy Sĩ có thế mạnh về công nghệ, vốn và nghiên cứu phát triển; Việt Nam có năng lực sản xuất, lực lượng lao động và mạng lưới thương mại rộng khắp.

Ngày 22/6/2026, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân (nay là Phó Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh) đã dẫn đầu đoàn đàm phán Việt Nam tham dự Hội nghị Bộ trưởng các nước EFTA tại Liechtenstein để trao đổi về các vấn đề cuối cùng còn tồn đọng để kết thúc đàm phán. Trưởng đoàn đàm phán của Việt Nam khi ấy nhấn mạnh ý nghĩa đặc biệt của Hiệp định là kết nối các nền kinh tế có thế mạnh bổ trợ, một bên là năng lực hàng đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, công nghệ, tài chính, năng lượng sạch, bên kia là một trung tâm sản xuất, thương mại, đầu tư đang nổi lên của châu Á.

Tiếp đến, trong buổi làm việc với lãnh đạo Bộ Công Thương vào ngày 16/3/2026, bà Helene Budliger Artieda, Quốc vụ khanh phụ trách kinh tế của Thụy Sỹ cũng nhận định Việt Nam là nền kinh tế năng động, có thị trường nội địa giàu tiềm năng và năng lực sản xuất mạnh, hấp dẫn doanh nghiệp Thụy Sĩ cả trong thương mại lẫn đầu tư dài hạn.

Trong các chương của FTA Việt Nam - EFTA, có lẽ khó nhất là sở hữu trí tuệ. Hiệp định đã bao gồm các quy định toàn diện về bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm quyền tác giả, nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh và các biện pháp kiểm soát tại biên giới. Các bên tái khẳng định việc thực hiện đầy đủ Hiệp định TRIPS của WTO và khuyến khích tham gia thêm các điều ước quốc tế liên quan đến sở hữu trí tuệ.

Tuy nhiên, trong buổi làm việc giữa Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân với Quốc vụ khanh Thụy Sỹ Helene Budliger Artieda hôm 16/3/2026, đại diện Cục Sở hữu trí tuệ cho biết ba vấn đề tồn đọng khi ấy là bù đắp thời hạn bằng sáng chế, bảo hộ dữ liệu thử nghiệm và bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Quốc vụ khanh Thụy Sĩ Helene Budliger Artieda cho rằng bảo hộ đầy đủ cho dược phẩm đổi mới là điều kiện cần để duy trì động lực nghiên cứu. Trong khi đó, lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ nhấn mạnh quyền sở hữu trí tuệ liên quan trực tiếp đến lợi ích quốc gia và cần được xử lý theo hướng cân bằng.

Theo số liệu của Bộ Công Thương, quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và các nước thành viên EFTA tiếp tục phát triển tích cực, với kim ngạch thương mại song phương đạt trung bình gần 2 tỷ USD mỗi năm. Cơ cấu hàng hóa trao đổi giữa hai bên mang tính bổ trợ cao, phù hợp với thế mạnh và nhu cầu của mỗi bên. Việt Nam xuất khẩu chủ yếu sang thị trường EFTA các mặt hàng như thủy sản, giày dép, dệt may, máy móc thiết bị, điện tử và linh kiện; đồng thời nhập khẩu từ EFTA các sản phẩm như máy móc, thiết bị công nghiệp, hóa chất, dược phẩm và nguyên liệu phục vụ sản xuất.

Trong đó, kim ngạch Việt Nam xuất khẩu sang EFTA năm 2025 (theo số liệu nhập khẩu của EFTA) là 3,6 tỷ EUR. Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu bình quân trong 5 năm, 10,7%. Kim ngạch EFTA xuất khẩu sang Việt Nam năm 2025 là 1,1 tỷ EUR. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân trong 5 năm là 13,6%. Các lĩnh vực chính được đề cập trong Hiệp định bao gồm thương mại hàng hóa, dịch vụ, quy tắc xuất xứ, tạo thuận lợi thương mại và thủ tục hải quan, đầu tư, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ, phát triển bền vững, doanh nghiệp nhỏ và vừa, và hợp tác.

Riêng với Thụy Sĩ, Na Uy, thống kê của Hải quan Việt Nam cho thấy, năm 2025, thương mại hàng hoá với Thụy Sĩ đạt 1,043 tỷ USD; với Na Uy 855 triệu USD.

Một nghịch lý đáng chú ý là số liệu thương mại hai phía chênh lệch rất xa. Theo Cục Hải quan, 8 tháng năm 2026, kim ngạch Việt Nam - Thụy Sĩ đạt 716,02 triệu USD. Trong đó Việt Nam chỉ xuất khẩu 132,41 triệu USD nhưng nhập khẩu 583,61 triệu USD, tức nhập siêu 451,2 triệu USD. Ngược lại, thống kê phía EFTA lại ghi nhận Việt Nam xuất siêu. Sự vênh lệch này đã có từ lâu. Năm 2021, nhân kỷ niệm 50 năm quan hệ ngoại giao, Đại sứ Thụy Sĩ tại Việt Nam Ivo Sieber viết rằng Việt Nam được hưởng thặng dư thương mại hằng năm với Thụy Sĩ trên 2 tỷ franc. Cùng thời điểm đó, theo số liệu phía Việt Nam, tổng kim ngạch hai chiều năm 2020 chỉ đạt 863,5 triệu USD.

Nguyên nhân nhiều khả năng nằm ở phương pháp thống kê. Thụy Sĩ ghi hàng nhập khẩu theo nước xuất xứ. Vì vậy, hàng sản xuất tại Việt Nam dù trung chuyển qua cảng hay trung tâm phân phối ở EU vẫn được tính là hàng Việt Nam. Trong khi đó, Hải quan Việt Nam ghi theo nước nhận hàng trên tờ khai, nên chính lô hàng ấy được tính là xuất sang Hà Lan, Đức hay một nước khác. Cách tính trị giá khác nhau (CIF và FOB), cùng việc có tính hay không tính vàng và kim loại quý, cũng có thể khiến số liệu hai bên lệch nhau.

Điều đó cho thấy lượng hàng Việt thực sự đến được thị trường Thụy Sĩ lớn hơn nhiều so với con số xuất khẩu trực tiếp. Khi VEFTA có hiệu lực, ưu đãi thuế quan gắn với quy tắc xuất xứ sẽ tạo động lực để doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp và minh bạch hóa xuất xứ hàng hóa. Nhờ đó, doanh nghiệp vừa hưởng trọn ưu đãi, vừa giảm bớt khâu trung gian, và giá trị gia tăng ở lại Việt Nam nhiều hơn.

Vì thế, kim ngạch song phương chỉ là một thước đo hụt. Có thể tách quan hệ kinh tế Việt Nam – Thụy Sĩ thành hai phần. Phần thứ nhất là hàng hóa đi thẳng giữa hai nước, đếm được ở cửa khẩu. Phần thứ hai là giá trị do doanh nghiệp vốn Thụy Sĩ tạo ra ngay tại Việt Nam, rồi bán ra thế giới, nên không bao giờ được ghi vào cột thương mại Việt Nam - Thụy Sĩ.

Nhà máy Nestlé Trị An ở tỉnh Đồng Nai là một ví dụ. Tháng 1/2024, tập đoàn gốc Thụy Sĩ này công bố đầu tư thêm 100 triệu USD để tăng gấp đôi công suất chế biến các dòng cà phê chất lượng cao tại đây, nâng tổng vốn của riêng nhà máy lên hơn 500 triệu USD. Nestlé cho biết họ thu mua khoảng 700 triệu USD cà phê Việt Nam mỗi năm, và sản phẩm từ Trị An được xuất khẩu tới hơn 29 quốc gia. Riêng con số thu mua này đã gấp hơn 5 lần toàn bộ giá trị hàng Việt Nam xuất trực tiếp sang Thụy Sĩ trong 8 tháng năm 2026 (132,41 triệu USD). Hạt cà phê Việt Nam đi qua một nhà máy vốn Thụy Sĩ để ra thế giới. Thế nhưng, trong thống kê, giao dịch thu mua chỉ là một giao dịch trong nước, còn lô hàng xuất đi được ghi là xuất sang nước nhập khẩu, không phải sang Thụy Sĩ.

"Dự án là minh chứng cho cam kết đầu tư dài hạn của Nestlé tại Việt Nam", ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam, nói khi công bố khoản đầu tư. Tính tới tháng 7/2026, Thụy Sĩ có 244 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký khoảng 2,5 tỷ USD, đứng thứ 20 trong 153 quốc gia và vùng lãnh thổ. Na Uy có 62 dự án, 201,57 triệu USD. Dòng vốn đã đi trước dòng hàng.

Theo thống kê dẫn trên Vnbusiness ngày 14/10/2026, giai đoạn 2024 tới 2025, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang EFTA là thủy sản trên 52 triệu USD, giày dép hơn 49 triệu USD, máy tính và linh kiện điện tử hơn 40 triệu USD, dệt may hơn 26 triệu USD. So với quy mô xuất khẩu của từng ngành, đó là những con số nhỏ. Nhỏ nghĩa là còn dư địa.

Thủy sản là ngành đặc biệt vì đi cả hai chiều. Theo số liệu Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), năm 2025 xuất khẩu thủy sản sang Thụy Sĩ đạt 34,31 triệu USD; tính tới tháng 11/2025, Việt Nam đứng thứ năm về trị giá trong nguồn thủy sản nhập khẩu của nước này. Sang Na Uy, con số năm 2025 là 18,48 triệu USD. Na Uy và Việt Nam cùng nằm trong nhóm ba nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới nhưng không đối đầu trực diện: Na Uy bán cá hồi, cá tuyết, cua hoàng đế, tôm biển; Việt Nam bán cá tra, tôm nuôi.

Phía Na Uy không giấu kỳ vọng. Hiện cá hồi Na Uy vào Việt Nam chịu thuế nhập khẩu 10% với cá nguyên con và 15% với cá phi lê, trong khi một số nguồn cung cạnh tranh đã được hưởng ưu đãi. Khi VEFTA có hiệu lực, mức thuế này sẽ về 0. “Chúng tôi kỳ vọng những ưu đãi trong FTA được ký kết lần này sẽ góp phần đưa giá sản phẩm cá hồi Na Uy thấp hơn, để sản phẩm đến gần hơn với người tiêu dùng Việt Nam”, bà Åshild Nakken, Giám đốc khu vực Đông Nam Á của Hội đồng Hải sản Na Uy, chia sẻ với Báo Công Thương. Bà cũng lưu ý giá bán cuối cùng còn phụ thuộc vào tỷ giá, chi phí vận chuyển và phân phối.

Như vậy, người tiêu dùng Việt Nam có thể được lợi về giá. Doanh nghiệp chế biến có thêm nguồn nguyên liệu chất lượng cao để làm hàng xuất khẩu. Với người nuôi trồng trong nước, sức ép không nằm ở cá tra hay tôm, vì theo VASEP, các mặt hàng chủ lực của Na Uy (cá hồi, cá tuyết, cua hoàng đế, tôm biển tự nhiên) không cạnh tranh trực tiếp với các mặt hàng này. Sức ép chủ yếu dồn vào phân khúc cá nước lạnh cao cấp, tại các nhà hàng, khách sạn và kênh bán lẻ hiện đại.

Ở chiều ngược lại, với hàng Việt đi EFTA, VASEP cho rằng đây là thị trường không lớn về dân số nhưng có trình độ phát triển cao, sức mua tốt. Ba trong bốn nước là Na Uy, Iceland và Liechtenstein thuộc Khu vực Kinh tế châu Âu (EEA), có mức độ gắn kết cao với hệ thống tiêu chuẩn của EU. Thụy Sĩ tuy không thuộc EEA nhưng có yêu cầu rất cao về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, môi trường và lao động.

Theo VASEP, ưu đãi thuế không phải lợi thế tự động. Cơ hội tốt nhất thuộc về các sản phẩm giá trị gia tăng, đạt chuẩn cao như tôm chế biến, cá tra phi lê, mực, bạch tuộc, cua và hàng đóng gói sẵn cho bán lẻ. Doanh nghiệp nào đứng vững ở thị trường khó tính này cũng sẽ có thêm bảo chứng về năng lực khi bước vào những thị trường lớn hơn.

Quay lại câu hỏi của bà Dung tại Hội thảo công bố báo cáo đánh giá tác động của FTA Việt Nam và EFTA, tháng 12/2025. Rào cản lớn nhất của doanh nghiệp bà không phải thuế, mà là các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe của Thụy Sĩ. Tại cùng hội thảo, bà Minh Phương, người từng sống ở Thụy Sĩ, cho biết thị trường này còn "khó tính" hơn cả Pháp; nhãn lồng Việt Nam chưa có mặt ở đó.

Hội thảo công bố báo cáo đánh giá tác động của FTA Việt Nam và EFTA, tháng 12/2025.

Bà Phương kể một chi tiết đau lòng với người làm nông sản: "Rất thương quả vải Việt Nam khi sang đó, rất khô, mã rất xấu so với các sản phẩm nhập khẩu từ các nước Trung Đông. Thanh long cũng thế". Hàng Trung Đông chua hơn nhưng đẹp mã hơn. Hàng Việt ngon hơn nhưng thua ở khâu bảo quản sau thu hoạch.

Ông Đinh Sỹ Minh Lăng, đại diện Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên (Bộ Công Thương) chia sẻ tại hội thảo, mô tả khâu kiểm tra của nhà nhập khẩu: "Đối tác đến tận vùng trồng. Đặc biệt với sản phẩm nông nghiệp bền vững thì họ xem xét rất kỹ điều kiện canh tác; môi trường, quản trị, xã hội (ESG) hoặc hữu cơ, tính an toàn cho cây và con người". Cách làm đất, bón phân, điều kiện làm việc của người lao động đều bị kiểm tra. Đã có chứng nhận mà không duy trì tuân thủ thì hàng vẫn bị loại. Theo ông Lăng, doanh nghiệp đã vào được EU là có tiền đề rất tốt để vào EFTA.

Chuyện của bà Dung không phải chuyện riêng. Bộ chỉ số FTA Index 2025 do Bộ Công Thương công bố ngày 18/8/2026, khảo sát 4.066 doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại 34 tỉnh, thành phố, cho thấy 36,2% doanh nghiệp mới chỉ hiểu cơ bản về các FTA. Ở nhóm doanh nghiệp nhỏ, chỉ 3,3% cho biết hiểu “rất rõ”. Doanh nghiệp chủ yếu tận dụng những ưu đãi dễ thấy là cắt giảm thuế quan và quy tắc xuất xứ, mảng mà khối FDI nổi trội. Còn các cam kết phức tạp hơn như vệ sinh dịch tễ, hàng rào kỹ thuật, sở hữu trí tuệ vẫn ít được khai thác. Đó cũng là những chương VEFTA đặt yêu cầu cao.

Bài học từ các FTA trước đã có sẵn. Theo số liệu của Bộ Công Thương và VCCI, kim ngạch xuất khẩu sử dụng C/O ưu đãi năm 2024 đạt khoảng 98,4 tỷ USD, sang năm 2025 còn khoảng 95,1 tỷ USD. Tỷ lệ tận dụng ưu đãi nói chung chỉ quanh mức 30-40%. Ở ba hiệp định thế hệ mới quan trọng nhất, tỷ lệ dùng C/O ưu đãi năm 2025 đều đi xuống. CPTPP giảm từ 8,8% xuống 7,7%. EVFTA giảm từ 35,1% xuống 34,1%. UKVFTA giảm mạnh nhất, từ 36,2% xuống 31,9%, tức hơn 4 điểm phần trăm. Kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường này vẫn tăng, nhưng phần hàng đi bằng ưu đãi ngày càng mỏng đi.

Bài học từ các FTA trước đã có sẵn. Báo cáo của Bộ Công Thương ngày 03/9/2026 cho biết xuất khẩu tận dụng ưu đãi FTA năm 2024 và năm 2025 đạt khoảng 100 tỷ USD, tỷ lệ tận dụng chỉ khoảng 30 tới 40%. Ở ba hiệp định thế hệ mới quan trọng nhất, tỷ lệ dùng giấy chứng nhận xuất xứ ưu đãi năm 2025 đều đi xuống, mạnh nhất ở UKVFTA, giảm 4,34 điểm phần trăm. Kim ngạch vẫn tăng, nhưng phần hàng đi bằng ưu đãi mỏng đi.

Bà Nguyễn Hoàng Thúy, Tham tán Thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Thụy Điển kiêm nhiệm Đan Mạch, Na Uy, Iceland và Latvia cho biết, FTA giữa Việt Nam - EFTA vượt ra ngoài một hiệp định cắt giảm thuế quan. Đây là thông điệp khẳng định Việt Nam tiếp tục kiên định với chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa đối tác và nâng cao chất lượng quan hệ thương mại với các nền kinh tế phát triển.

Theo bà Nguyễn Thị Hoàng Thúy, với FTA giữa Việt Nam - EFTA, điều doanh nghiệp cần nhìn thấy không chỉ là cơ hội gia tăng xuất khẩu mà còn là cơ hội nâng cấp chính mình. Thị trường EFTA đặt ra những tiêu chuẩn rất cao, nhưng cũng chính những tiêu chuẩn ấy phù hợp với định hướng phát triển mới của Việt Nam là nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng tăng trưởng và tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng bền vững.

Như vậy, với FTA giữa Việt Nam - EFTA, doanh nghiệp cần ghi nhớ ba từ khóa: chuẩn hóa, minh bạch và kiên trì. Chuẩn hóa từ sản phẩm đến quy trình, hồ sơ và hợp đồng; minh bạch về nguồn gốc, nguyên liệu, tiêu chuẩn, phát thải, lao động và trách nhiệm xã hội; kiên trì xây dựng uy tín, quan hệ hợp tác lâu dài thay vì kỳ vọng những kết quả tức thời.

VEFTA là FTA đầu tiên Việt Nam ký khi đã có trong tay bộ công cụ thực thi. Nghị quyết 250/2025/QH15 ngày 10/12/2025 của Quốc hội tạo cơ chế đặc thù nâng cao hiệu quả hội nhập; Nghị định số 240/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 hướng dẫn Hệ sinh thái tận dụng các FTA và Quỹ Xúc tiến xuất khẩu ngành hàng; Quyết định số 1253/QĐ-TTg ngày 10/7/2026 phê duyệt Đề án Hệ sinh thái. Câu hỏi của bà Dung, "có tổ chức, chuyên gia nào giúp", giờ đã có địa chỉ trên giấy. Việc còn lại là đưa địa chỉ ấy tới tận doanh nghiệp siêu nhỏ.

Đường lối đã chỉ hướng. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị yêu cầu hội nhập phải "lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, làm chủ thể sáng tạo". Quán triệt Nghị quyết ngày 16/9/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu "chuyển từ tư duy tiếp nhận sang tư duy đóng góp" và chỉ rõ chỗ phải gỡ: "khắc phục điểm nghẽn về thực thi cam kết, thỏa thuận quốc tế".

Chính phủ đã đặt mục tiêu. Hội kiến Tổng thống Thụy Sĩ Guy Parmelin chiều 17/10/2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng đề nghị phối hợp để Hiệp định sớm có hiệu lực, "phấn đấu tăng gấp đôi kim ngạch thương mại song phương", khuyến khích quỹ đầu tư Thụy Sĩ vào tài chính, ngân hàng, công nghiệp chế tạo, công nghệ sinh học, dược phẩm, đổi mới sáng tạo (Tiền Phong, 17/10/2026). Tổng thống Parmelin đề xuất kết nối Trung tâm Crypto Valley của Thụy Sĩ với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam, hợp tác đào tạo nghề gắn với nhu cầu doanh nghiệp, tạo thuận lợi hơn về thị thực cho công dân Việt Nam.

Từ nay tới khi các bên hoàn tất phê chuẩn, ít nhất năm việc làm được ngay:

Năm 1817, khi viết về rượu vang Bồ Đào Nha và vải nước Anh, David Ricardo tin rằng thương mại tự do gắn kết các dân tộc bằng “một sợi dây chung của lợi ích và giao thương”. Ngày 18/10/2026, sợi dây ấy giữa Việt Nam và bốn nước EFTA đã thành văn bản. Nhưng chữ ký mới là điểm khởi đầu. Hiệp định chỉ thật sự có nghĩa khi một quả nhãn lồng Hưng Yên, sau khi vượt qua mã số vùng trồng, tiêu chuẩn GlobalG.A.P., khâu bảo quản, vận chuyển và kiểm dịch, được bày trên quầy một siêu thị ở Zurich. Hôm ấy, câu hỏi bà Dung đặt ra cuối năm 2025 mới có lời đáp trọn vẹn...

Lâm Vỹ Sơn - Hoàng Hòa - Hồng Thịnh