Xăng E10 đã là nhiên liệu phổ biến của thế giới
Những ngày này, khi lộ trình sử dụng xăng E10 chuẩn bị được triển khai từ ngày 1/6/2026 theo Thông tư 50/2025/TT-BCT của Bộ Công Thương, thị trường xuất hiện không ít băn khoăn. Nhiều người lo ngại xăng E10 có thể làm hỏng động cơ, gây hao xăng, nóng máy hay ảnh hưởng đến tuổi thọ phương tiện… Nhiều thông tin chưa được kiểm chứng lan toả với tốc độ cao trên mạng xã hội khiến người tiêu dùng hoang mang.
Tuy nhiên, nhìn ra thế giới, xăng E10 thực tế không phải loại nhiên liệu mới. Theo thông tin từ Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), hiện đã có hơn 60 quốc gia triển khai chính sách pha trộn ethanol bắt buộc trong xăng, trong đó E10 là mức phổ biến nhất. Mỹ, châu Âu, Brazil, Thái Lan, Australia, Philippines hay nhiều quốc gia châu Á đã sử dụng E10 từ nhiều năm nay như một phần trong chiến lược giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và cắt giảm phát thải.
Tại Mỹ, xăng E10 hiện chiếm hơn 95% thị phần với sản lượng ethanol khoảng 60 tỷ lít mỗi năm. Gần như toàn bộ xăng tiêu thụ trên thị trường Mỹ đều chứa tới 10% ethanol. Trong khi đó, Liên minh châu Âu (EU) cũng thúc đẩy E10 trở thành tiêu chuẩn phổ biến nhằm đáp ứng mục tiêu giảm phát thải và trung hòa carbon. Nhiều quốc gia như Đức, Pháp đã chuyển đổi gần như toàn bộ xăng RON95 sang E10.
Tại Thái Lan, xăng E10 đã thay thế hoàn toàn xăng RON91. Philippines áp dụng bắt buộc E10 trên toàn quốc từ năm 2011 theo Đạo luật Nhiên liệu sinh học. Điều này cho thấy E10 không còn là nhiên liệu thử nghiệm. Đây đã là loại nhiên liệu phổ biến toàn cầu. Thậm chí ở nhiều quốc gia, mức pha trộn ethanol vào xăng khoáng đã lên đến 20%, 25%, tức là họ không còn sử dụng xăng E10 mà đã sử dụng đến xăng E20, E25.
Người tiêu dùng tìm hiểu về các tiêu chuẩn của xăng E10
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Đỗ Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam nhận định, nếu xăng E10 không đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng thì loại nhiên liệu này khó có thể tồn tại lâu dài và được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia như hiện nay. Bên cạnh độ an toàn, xăng E10 còn có ưu thế ở việc giúp giảm phát thải ra môi trường và tiết kiệm xăng khoáng. Bởi chỉ với 10% ethanol được pha trộn sẽ tương đương với tiết kiệm 10% xăng khoáng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh xung đột Trung Đông khiến nguồn cung xăng dầu gặp khó khăn.
Tại Việt Nam, xăng E10 đang bước vào giai đoạn chuyển đổi. Dù không phải là loại nhiên liệu mới khi xăng E5 trước đó đã được sử dụng thử nghiệm từ năm 2014 và chính thức từ năm 2018, tuy nhiên, trong bối cảnh mạng xã hội phát triển mạnh, nơi các thông tin chưa được kiểm chứng thường lan nhanh hơn dữ liệu khoa học, chỉ cần vài video chia sẻ trải nghiệm cá nhân thiếu kiểm chứng, tâm lý hoang mang có thể nhanh chóng lan rộng.
Nhưng năng lượng không thể được điều hành bằng tin đồn! Chính vì vậy, mới đây, PGS.TS Đàm Hoàng Phúc, Giám đốc Chương trình Đào tạo kỹ thuật ô tô, Đại học Bách khoa Hà Nội cùng nhóm nghiên cứu đã trực tiếp thực hiện thử nghiệm thực tế với xăng E10 trên xe Toyota Corolla Cross, bao gồm cả phiên bản động cơ xăng thuần (ICE) và hybrid (HEV), trong điều kiện phòng thí nghiệm và vận hành thực tế tại Hà Nội.
Theo PGS.TS Đàm Hoàng Phúc, có hai lo ngại phổ biến nhất hiện nay: E10 làm xe hao xăng hơn và E10 làm xe yếu đi. Cả hai đều cần được nhìn nhận chính xác hơn.
"Trong nghiên cứu thực nghiệm của chúng tôi trên đường thực tế tại Hà Nội, nội đô giờ cao điểm, thấp điểm và đại lộ Thăng Long, kết quả cho thấy điều ngược lại với lo ngại thông thường: trong điều kiện tắc đường nội đô, xe xăng thông thường (ICE) dùng E10 tiêu hao giảm 2,3% so với RON95, xe hybrid (HEV) dùng E10 tiêu hao giảm 7,8%. Ở tốc độ cao 90-120 km/h trên đại lộ, E10 cũng tiết kiệm hơn RON95 trên cả hai loại xe", PGS.TS Đàm Hoàng Phúc chia sẻ và cho biết, về công suất, kết quả phân hóa theo loại xe: xe ICE ở chế độ toàn tải giảm khoảng 6%, đây là sự thật cần thừa nhận. Nhưng xe HEV lại tăng công suất 2,15% với E10, do octane cao của ethanol phát huy hiệu quả khi hệ thống hybrid kiểm soát quá trình đốt cháy. Nói cách khác, kết quả phụ thuộc vào loại xe, không có câu trả lời chung cho tất cả. Về khí thải, xe ICE dùng E10 giảm HC độc hại 10,87% và CO giảm 14,95% so với RON95, lợi ích môi trường rõ ràng, có thể đo đếm được.
Quan trọng hơn, các nghiên cứu và đánh giá từ các hiệp hội sản xuất phương tiện cho thấy phần lớn xe máy và ô tô đang lưu hành tại Việt Nam hiện nay đều tương thích với xăng E10. Cụ thể, theo Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, hầu hết xe máy sản xuất sau năm 2000 đã phù hợp với E10. Dưới góc độ doanh nghiệp, Hiệp hội Các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM) cũng khẳng định các phương tiện này có thể sử dụng E10 an toàn.
Đối với ô tô, trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Đào Công Quyết, Trưởng Tiểu ban Truyền thông của Hiệp hội các nhà sản xuất Ô tô Việt Nam (VAMA) cho biết hầu hết dòng ô tô hiện đại đều được thiết kế phù hợp với xăng E10.
Hiệp hội Các nhà sản xuất Ô tô Việt Nam (VAMA) đánh giá đa số phương tiện đang lưu hành tương thích với E10, chỉ có khoảng 60.000 xe tải nhẹ của Suzuki chưa phù hợp hoàn toàn với loại nhiên liệu này. Đây cũng là lý do Bộ Công Thương tiếp tục duy trì lưu hành xăng E5 RON92 đến hết năm 2030 để bảo đảm lộ trình chuyển đổi phù hợp.
Khuyến cáo từ nhà sản xuất và phân phối ô tô
Tại trang Facebook của Mitsubishi Tràng Bảng - đại lý chính thức của Mitsubishi Motors Việt Nam mới đây cũng có bài viết khẳng định: Thực tế, với các dòng xe Mitsubishi sử dụng động cơ phun xăng điện tử phân phối tại Việt Nam, việc sử dụng E10 hoàn toàn tương thích nếu dùng đúng cách và bảo dưỡng định kỳ đầy đủ. Bên cạnh đó, một vài thói quen nhỏ như: Đổ nhiên liệu tại cây xăng uy tín; Hạn chế để xe quá lâu không vận hành; Kiểm tra xe khi có dấu hiệu bất thường… sẽ giúp hệ thống nhiên liệu hoạt động ổn định và bền bỉ hơn. Điều quan trọng nhất vẫn là hiểu đúng thông tin, sử dụng đúng nhiên liệu phù hợp với khuyến nghị của nhà sản xuất để chiếc xe luôn vận hành hiệu quả mỗi ngày.
Làm rõ những tin đồn chưa đúng
Cũng theo các chuyên gia, hiện nay có những tin đồn hoàn toàn chưa đúng đắn về xăng E10 mà nhiều người tiêu dùng đang lo ngại. Theo PGS.TS Đàm Hoàng Phúc, E10 có tính tẩy rửa mạnh hơn xăng khoáng. Với những xe đã sử dụng lâu năm, cặn bẩn trong hệ thống nhiên liệu có thể tích tụ âm thầm trong bình xăng, đường ống và kim phun. Khi chuyển sang E10, ethanol bắt đầu hòa tan lớp cặn này, khiến cặn bị cuốn vào dòng nhiên liệu và gây tắc nghẽn trong giai đoạn đầu sử dụng. Nói cách khác, E10 không phải nguyên nhân “gây bệnh”, mà giống như một phép thử làm lộ ra những vấn đề đã tồn tại sẵn trong hệ thống nhiên liệu.
Đây cũng là điều được ông Đỗ Văn Tuấn nhấn mạnh khi phân tích các tin đồn lan truyền trên mạng xã hội. Theo ông, nhiều lo ngại như E10 gây ăn mòn động cơ, làm nóng máy hay gây hỏng xe hiện chưa có cơ sở khoa học rõ ràng.
Ông Tuấn nói, xăng E10 thực chất có đặc tính như một chất dung môi nhẹ. Vì vậy, với những phương tiện đã sử dụng xăng khoáng trong thời gian dài, cặn bẩn có thể đã tích tụ trong đường ống dẫn nhiên liệu và kim phun. Khi chuyển sang sử dụng xăng E10, loại nhiên liệu này có thể làm bong và cuốn trôi các lớp cặn bám lâu ngày, từ đó gây ra hiện tượng tắc nghẽn ở lần sử dụng đầu tiên.
Tuy nhiên, nguyên nhân không nằm ở việc xăng E10 “gây hỏng” động cơ, mà chính là do nó làm lộ ra tình trạng cặn bẩn đã tồn tại từ trước trong hệ thống nhiên liệu. Trong trường hợp xảy ra hiện tượng tắc nghẽn, người sử dụng chỉ cần vệ sinh lại đường ống dẫn nhiên liệu và kim phun tại các cơ sở sửa chữa. Sau khi làm sạch, từ những lần sử dụng tiếp theo hiện tượng này hầu như sẽ không còn xảy ra.
“Có thể nói, xăng E10 không phải là nguyên nhân “gây bệnh” cho động cơ, mà giống như một “phép thử” giúp phát hiện những vấn đề đã tồn tại sẵn trong hệ thống nhiên liệu của xe”, ông Tuấn nói.
Một số thông tin cho rằng E10 hút ẩm mạnh gây tách lớp nhiên liệu cũng bị đánh giá là hiểu chưa đầy đủ về đặc tính xăng. Theo phân tích của các chuyên gia, trong điều kiện bình chứa kín thông thường, hơi xăng có xu hướng thoát ra ngoài thay vì hút ẩm từ không khí vào trong bình chứa. Nếu xuất hiện nước trong nhiên liệu thì nguyên nhân thường liên quan đến quá trình tồn trữ và phân phối.
Bên cạnh việc phân tích nguyên nhân, các chuyên gia đều khuyến nghị việc chuyển đổi sang E10 cần có sự chuẩn bị, đặc biệt với xe cũ. Người dùng nên vệ sinh bình xăng, kiểm tra hệ thống nhiên liệu, thay lọc xăng... Đồng thời, nên ưu tiên đổ xăng tại các cửa hàng có lưu lượng bán lớn, có uy tín.
Một điểm khác cũng được cảnh báo là không nên tự ý pha thêm các loại phụ gia không rõ nguồn gốc vào E10. Theo các chuyên gia và hiệp hội ngành hàng, việc bổ sung phụ gia trôi nổi có thể gây rủi ro cho động cơ và làm khó xác định nguyên nhân nếu xảy ra sự cố.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, với những sản phẩm mới đưa ra thị trường, thành công chỉ đến khi có ba điều kiện song hành: chất lượng nhiên liệu được kiểm soát chặt chẽ, lộ trình triển khai đủ ổn định và truyền thông minh bạch để người dân hiểu đúng. Bởi trong chuyển dịch năng lượng, điều đáng sợ nhất không phải là công nghệ mới, mà là sự hoang mang lo lắng được nuôi lớn bởi những thông tin thiếu kiểm chứng.
Xăng dầu được ví von là “bánh mì” của nền kinh tế. Xăng E10 khi đưa ra thị trường phải đáp ứng được hàng loạt các tiêu chuẩn, quy chuẩn của Bộ Khoa học và Công nghệ. Với kinh nghiệm sử dụng lâu năm trên thế giới, sự khuyến cáo của các chuyên gia uy tín, thiết nghĩ, người tiêu dùng không cần quá hoang mang mà cần chọn lọc thông tin để an tâm sử dụng, đóng góp cho lộ trình tăng trưởng xanh của đất nước.
Lộ trình sử dụng nhiên liệu sinh học được thực hiện nghiêm theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, trong đó có Nghị quyết số 55-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Các văn bản này đều yêu cầu hiện thực hóa các giải pháp giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, giảm phát thải, bảo vệ môi trường. Việc triển khai lộ trình sử dụng xăng sinh học không phải là quyết định mang tính áp đặt hay nhằm hạn chế quyền lựa chọn của người dân, mà xuất phát từ yêu cầu phát triển bền vững, bảo đảm an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam về giảm phát thải khí nhà kính.
Chiều 27/5, trả lời báo chí, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân khẳng định: “Lộ trình chuyển đổi nhiên liệu sinh học được xây dựng theo hướng từng bước, có đánh giá tác động kỹ lưỡng, không thực hiện đột ngột. Trong quá trình triển khai, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, doanh nghiệp để bảo đảm nguồn cung ổn định, chất lượng nhiên liệu, quyền lợi người tiêu dùng và đặc biệt, Bộ cũng sẽ tiếp tục cung cấp thêm các thông tin thông minh bạch để người dân yên tâm sử dụng”.