Đóng

Xăng E10 mở dư địa cho ngành sắn và nhiên liệu sinh học

Việc triển khai lộ trình sử dụng xăng sinh học E10 không chỉ thúc đẩy phát triển nhiên liệu xanh mà còn mở ra cơ hội gia tăng giá trị cho ngành sắn.

Nhu cầu ethanol tăng, ngành sắn đón cơ hội mới

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 29/2026 về thí điểm một số chính sách trong triển khai lộ trình sử dụng xăng E10, có hiệu lực từ ngày 16/6/2026 đến hết ngày 15/6/2028. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch năng lượng xanh, giảm phát thải và từng bước mở rộng thị trường nhiên liệu sinh học tại Việt Nam.

Sản xuất ethanol từ phụ phẩm nông nghiệp vừa tạo giá trị gia tăng, vừa góp phần phát triển nông nghiệp xanh và bền vững. Ảnh minh họa

Theo nghị quyết, bên cạnh các cơ chế liên quan đến quản lý chất lượng, giá bán và tổ chức thị trường xăng E10, Chính phủ cũng giao các bộ, ngành nghiên cứu phát triển vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất nhiên liệu sinh học, trong đó có ethanol - thành phần quan trọng để pha chế xăng E10. Đối với ngành nông nghiệp, đây được đánh giá là cơ hội đáng chú ý để nâng cao giá trị các loại cây trồng và phụ phẩm nông nghiệp, đặc biệt là cây sắn, nguồn nguyên liệu chủ lực trong sản xuất ethanol hiện nay.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ để sử dụng nguyên liệu và phụ phẩm từ sản xuất trồng trọt phục vụ sản xuất ethanol mang lại nhiều lợi ích. Theo đó, không chỉ tạo thêm giá trị gia tăng cho ngành trồng trọt, việc phát triển nhiên liệu sinh học còn góp phần bảo vệ môi trường, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và hướng tới mô hình sản xuất xanh theo định hướng phát triển nông nghiệp bền vững.

Hiện nay, Việt Nam có nguồn nguyên liệu nông nghiệp rất lớn với hơn 7,12 triệu ha lúa, 871.000 ha ngô, 517.000 ha sắn, 185.000 ha mía cùng hàng triệu ha cây công nghiệp, cây ăn quả và rau màu. Đây là nguồn lực quan trọng để phát triển ngành nhiên liệu sinh học trong tương lai. Đáng chú ý, khi lộ trình sử dụng xăng E10 được triển khai trên diện rộng, nhu cầu ethanol sẽ gia tăng đáng kể. Điều này mở ra cơ hội mới cho ngành sắn, một trong những ngành hàng nông sản có kim ngạch xuất khẩu trên 1,3 tỷ USD trong năm 2025 và đang tạo sinh kế cho khoảng 1,2 triệu hộ nông dân.

Việt Nam hiện có khoảng 517.000 ha sắn với sản lượng đạt khoảng 10,5 triệu tấn mỗi năm. Cây sắn tập trung chủ yếu tại khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Trung du miền núi phía Bắc. Ngoài nguồn nguyên liệu trong nước, Việt Nam còn nhập khẩu lượng lớn sắn từ Campuchia và Lào, đưa tổng nguồn cung nguyên liệu phục vụ chế biến lên trên 18 triệu tấn sắn tươi mỗi năm. Đây là lợi thế quan trọng để phát triển ngành công nghiệp chế biến ethanol quy mô lớn.

Phát triển vùng nguyên liệu gắn với chế biến sâu và truy xuất nguồn gốc

Theo Đề án phát triển bền vững ngành hàng sắn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Bộ Nông nghiệp và Môi trường định hướng duy trì diện tích sắn cả nước ở mức 480.000-510.000 ha, tập trung nâng cao năng suất và chất lượng thay vì mở rộng diện tích. Mục tiêu đến năm 2030, sản lượng sắn tươi đạt từ 11,5-12,5 triệu tấn, trong đó khoảng 85% sản lượng được đưa vào chế biến sâu các sản phẩm như tinh bột, ethanol, mì chính và các sản phẩm công nghiệp khác.

Ngành nông nghiệp cũng xác định 5 vùng nguyên liệu trọng điểm phục vụ phát triển ngành sắn, gồm Trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Đây sẽ là nền tảng để xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ quy mô lớn trong thời gian tới. Theo các chuyên gia, việc phát triển xăng E10 không chỉ tạo thêm đầu ra cho cây sắn mà còn giúp giảm phụ thuộc vào một số thị trường xuất khẩu truyền thống.

Hiện nay, Trung Quốc vẫn chiếm hơn 90% thị phần xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam. Sự phụ thuộc quá lớn vào một thị trường khiến ngành sắn đối mặt với nhiều rủi ro khi nhu cầu hoặc chính sách nhập khẩu thay đổi. Trong khi đó, các thị trường quốc tế ngày càng đặt ra yêu cầu cao về truy xuất nguồn gốc, tính hợp pháp và sản phẩm không gây mất rừng. Những quy định mới từ Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản hay Hàn Quốc đang tạo sức ép lớn đối với các ngành hàng nông sản, trong đó có sắn.

Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là nguyên liệu sắn trong nước vẫn chủ yếu được sản xuất bởi các hộ nhỏ lẻ, phân tán, thiếu hệ thống truy xuất nguồn gốc đồng bộ. Tình trạng thu mua qua nhiều tầng nấc trung gian cũng khiến việc kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, cùng với việc phát triển nhiên liệu sinh học, các chuyên gia cho rằng cần đẩy mạnh xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, áp dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp chế biến với người dân.

Theo ông Nguyễn Quốc Mạnh, để ngành nhiên liệu sinh học phát triển bền vững, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành Công Thương và ngành Nông nghiệp trong quy hoạch vùng nguyên liệu sản xuất ethanol. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp sản xuất ethanol cần ký kết hợp đồng liên kết dài hạn với nông dân, hỗ trợ hạ tầng, kỹ thuật, cơ giới hóa và bảo đảm đầu ra ổn định cho nguyên liệu. “Điều quan trọng nhất là người dân tham gia sản xuất nguyên liệu sinh học phải có thu nhập ổn định và cao hơn so với các phương án canh tác khác. Chỉ khi đó việc xây dựng vùng nguyên liệu mới thực sự bền vững”, ông Nguyễn Quốc Mạnh nhấn mạnh.

Trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và thực hiện các cam kết giảm phát thải, xăng E10 không chỉ là giải pháp thay thế nhiên liệu hóa thạch mà còn mở ra dư địa phát triển mới cho ngành sắn, công nghiệp chế biến ethanol và chuỗi giá trị nhiên liệu sinh học trong nước. Nếu được triển khai đồng bộ, đây sẽ là cơ hội để nâng cao giá trị nông sản, gia tăng thu nhập cho nông dân và thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn theo hướng xanh, bền vững.

Theo định hướng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến năm 2030, diện tích trồng sắn cả nước duy trì khoảng 480.000-510.000 ha, sản lượng đạt 11,5-12,5 triệu tấn, trong đó khoảng 85% sản lượng được đưa vào chế biến sâu như tinh bột, ethanol, mì chính. Tỷ lệ diện tích sử dụng giống đạt chuẩn đạt 40-50%, diện tích canh tác bền vững đạt 50%. Kim ngạch xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn phấn đấu đạt 1,8-2 tỷ USD vào năm 2030 và 2,3-2,5 tỷ USD vào năm 2050.

Nguyễn Hạnh