Đằng sau cột mốc ấy là một đường lối nhất quán, xuyên suốt hơn một thập kỷ của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi năng lượng xanh và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia - một chủ trương lớn đòi hỏi sự thống nhất hành động của cả hệ thống chính trị và toàn dân.
Thế giới đã đi trước cả nửa thế kỷ - Việt Nam với nửa thập kỷ chuẩn bị và không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới.
Một xu thế văn minh đã được nửa thế kỷ kiểm chứng
Câu chuyện nhiên liệu sinh học bắt đầu từ cuộc khủng hoảng dầu mỏ toàn cầu năm 1973 do Tổ chức Các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ Arab (OAPEC) khởi xướng, đẩy giá năng lượng lên mức chưa từng có. Brazil khi đó phụ thuộc nhập khẩu tới 77,3% nhu cầu dầu buộc phải tìm nguồn năng lượng thay thế để bảo đảm an ninh năng lượng. Ngày 14/11/1975, Tổng thống Ernesto Geisel ký sắc lệnh lập Chương trình Proálcool, đặt mục tiêu sản xuất 3,5 tỷ lít ethanol từ mía đường để pha vào xăng. Chương trình đã giúp cải thiện cán cân thương mại và môi trường, từ đó đặt nền móng công nghệ cho các thế hệ nhiên liệu sinh học hiện đại.
Nửa thế kỷ sau, theo Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ (EIA) và Liên đoàn Năng lượng tái tạo châu Âu (ePURE), hơn 60 quốc gia đã triển khai xăng E10. Brazil tiến xa hơn với mức phối trộn E18-E27,5. Liên minh châu Âu (18 nước cùng Anh) lần đầu đạt mục tiêu giảm 6,3% cường độ phát thải khí nhà kính trong giao thông năm 2023, phần lớn nhờ biofuel. Trung Quốc, thị trường ô tô lớn nhất thế giới đã ban hành kế hoạch E10 toàn quốc từ năm 2017, hiện triển khai tại 15/31 tỉnh thành.
Bảng 1: Tình hình sử dụng xăng sinh học trên thế giới.
Những con số trên cho thấy, xăng sinh học không phải thử nghiệm, không phải giải pháp tình thế, đây là một xu thế văn minh tất yếu đã được kiểm chứng qua nửa thế kỷ. Việt Nam áp dụng E10 chính là bước tiệm cận xu thế chung của thế giới văn minh, đứng cùng hàng với các nền kinh tế phát triển trong cuộc chuyển đổi năng lượng xanh.
Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia là nền tảng, là tiền đề quan trọng để phát triển đất nước, là bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia.
Hành trình nhiên liệu sinh học tại Việt Nam
Quyết định chuyển toàn bộ thị trường sang E10, kể cả việc "không còn bán xăng khoáng RON95" từ 1/6/2026 chính là bước hiện thực hóa chỉ đạo chính trị - pháp lý xuyên suốt từ văn kiện Đại hội Đảng, nghị quyết Bộ Chính trị, đến các quyết định, văn bản pháp luật của Chính phủ và Bộ Công Thương. Nhiên liệu sinh học không phải là câu chuyện thích thì làm, không phải là việc riêng của Bộ Công Thương mà là tất yếu với thực tiễn Việt Nam và xu thế thế giới, là mệnh lệnh chiến lược vì tự chủ và an ninh năng lượng quốc gia.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng (1/2021), lần đầu tiên đưa khái niệm kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, thân thiện môi trường vào văn kiện chính thức; xác định định hướng giai đoạn 2021 - 2030 xây dựng nền kinh tế tuần hoàn, "giải quyết hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường", thiết lập lộ trình - cơ chế - khung pháp lý cho mô hình kinh tế tuần hoàn. Ngay sau Đại hội, tại COP26 (11/2021), Việt Nam cam kết Net Zero 2050, đặt nền cho mọi chính sách "xanh hóa" giao thông sau này.
Nghị quyết 55-NQ/TW (ngày 11/2/2020) của Bộ Chính trị "Định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" là căn cứ chính trị gốc rễ: xác định đa dạng hóa nguồn năng lượng, giảm phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch là yêu cầu xuyên suốt, trong đó nhiên liệu sinh học được xác định là một trong những hướng đi quan trọng. Mục tiêu định lượng: tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt 15-20% vào năm 2030 và 25-30% vào năm 2045; tiết kiệm năng lượng khoảng 7% vào năm 2030 so với kịch bản phát triển thông thường.
Nghị quyết 70-NQ/TW (ngày 20/8/2025) của Bộ Chính trị: "Bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" đã nâng tầm và cập nhật Nghị quyết 55 trong bối cảnh mới: nâng mục tiêu năng lượng tái tạo lên 25 - 30% tổng cung năng lượng sơ cấp ngay từ năm 2030 (so với 15-20% của Nghị quyết 55 - một sự tăng tốc đáng kể); đặt mục tiêu tiết kiệm năng lượng 8-10% so kịch bản thường; giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động năng lượng 15 - 35%; tổng cung năng lượng sơ cấp 150-170 triệu TOE; tổng sản lượng điện 560 - 624 tỷ kWh.
Nghị quyết 55/NQ/TW và Nghị quyết 70-NQ/TW là căn cứ trực tiếp khi lý giải việc chuyển sang xăng sinh học, tăng tỷ lệ sử dụng nhiên liệu sinh học sẽ góp phần giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu, đa dạng hóa nguồn cung năng lượng.
Cụ thể, Nghị quyết 55 đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt 15 - 20%; đến năm 2045 tăng lên 25 - 30%.
Nghị quyết 70-NQ/TW nêu, phát triển đồng bộ, hợp lý và đa dạng hóa các loại hình năng lượng; ưu tiên khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch…; có phương án cho các nhà máy nhiệt điện than chuyển đổi nhiên liệu sang sử dụng khí tự nhiên, nhiên liệu sinh khối, hydrogen, amoniac...; triển khai rộng rãi mô hình kinh tế tuần hoàn, tận dụng phế thải từ sản xuất công nghiệp làm nhiên liệu sản xuất năng lượng.
Tại Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, lần đầu tiên xác định bảo vệ môi trường là trụ cột, điều kiện và động lực của mô hình phát triển nhanh, bền vững; khẳng định nguyên tắc không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng; xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi năng lượng, từng bước giảm phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch hướng tới Net Zero năm 2050.
Quyết định 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2040 đề ra nhiều mục tiêu cụ thể, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và phát thải thấp. Các mục tiêu cụ thể nổi bật là giảm cường độ phát thải khí nhà kính trên GDP đến năm 2030 giảm ít nhất 15% so với năm 2014; đến năm 2050 giảm ít nhất 30% so với năm 2014.
Quyết định số 215/QĐ-TTg ngày 01/3/2024 phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt ra mục tiêu tổng quát: bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi năng lượng. Nói cách khác, các quyết định này của Chính phủ đều đặt ra mục tiêu phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng xanh, giảm phát thải CO2...
Tuy nhiên, câu chuyện bắt đầu từ một thực tế xa hơn hàng chục năm trước. Quyết định số 53/2012/QĐ-TTg ngày 22/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống đã quy định sau thời gian thử nghiệm thì từ ngày 01/12/2015 xăng được sản xuất, phối chế, kinh doanh để sử dụng cho phương tiện cơ giới đường bộ tiêu thụ trên toàn quốc là xăng E5. Từ ngày 01/12/2017, xăng được sản xuất, phối chế, kinh doanh để sử dụng cho phương tiện cơ giới đường bộ tiêu thụ trên toàn quốc.
Ngày 1/6/2026 là điểm hội tụ của một chuỗi chủ trương nhất quán kéo dài từ năm 2012 đến 2026, từ Đại hội XIII (kinh tế tuần hoàn) đến Nghị quyết số 55-NQ/TW (chiến lược năng lượng, nhiên liệu sinh học), sau đó là COP26 (Net Zero), rồi đến Nghị quyết số 70-NQ/TW (an ninh năng lượng, nâng mục tiêu tái tạo), tiếp theo là Đại hội XIV (chuyển đổi xanh là trụ cột) chứ không phải một quyết định đột ngột.
Hành trình nhiên liệu sinh học của Việt Nam chính thức bắt đầu bằng Quyết định 177/2007/QĐ-TTg về Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn 2025 (mục tiêu 1,8 triệu tấn nhiên liệu sinh học/năm). Tiếp theo, Quyết định 53/2012/QĐ-TTg đặt lộ trình chi tiết: E5 RON92 toàn quốc từ năm 2014-2015, E10 từ năm 2017.
E5 RON92: từ thí điểm đến bắt buộc
Thực tế khác xa kế hoạch. Sau giai đoạn thí điểm tại 7 địa phương (tháng 12/2014): Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Cần Thơ, E5 liên tục bị trì hoãn từ năm 2015 sang 2016, giữa 2017 và cuối cùng bắt buộc toàn quốc từ ngày 1/1/2018 (chậm 3 năm). Xăng E10 vốn có lộ trình từ 2017 bị trì hoãn gần 9 năm.
E5 RON92 từng chiếm tới ~42% tổng lượng xăng cả nước (RON95 ~58%). Nhưng sau đó lại giảm sút khó tưởng tượng sau 6 năm.
Bốn nguyên nhân thất bại của E5
Thứ nhất, chênh lệch giá không đủ hấp dẫn: thuế bảo vệ môi trường với E5 ở mức cao (3.800 đồng/lít, bằng ~95% thuế xăng khoáng RON92), khiến E5 chỉ rẻ hơn RON95 khoảng 800–1.200 đồng/lít, quá mỏng để thuyết phục.
Thứ hai, nền xăng RON92 chất lượng thấp: điểm yếu chí mạng. Phần lớn xe đời mới được khuyến cáo dùng octan từ 95 trở lên; người dùng phản ánh xe nhanh nóng máy, tốn xăng hơn, máy ì.
Thứ ba, tâm lý e ngại "E5 hại máy, tốn xăng" lan rộng mà không được phản bác kịp thời bằng khoa học; truyền thông không chủ động.
Thứ tư, bán song song với RON95 khiến việc thúc đẩy chuyển đổi gặp khó khăn. Cộng hưởng thêm: giá dầu thế giới giảm mạnh làm ethanol kém cạnh tranh; xung đột thương mại Mỹ - Trung 2019 - 2020 gây bất ổn nguồn.
Sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ Nghị quyết 55 đến Nghị quyết 70
Việt Nam không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới. Năm 2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 53/2012/QĐ-TTg, văn bản pháp lý đầu tiên đặt nền móng cho lộ trình nhiên liệu sinh học quốc gia, với mục tiêu E5 toàn quốc năm 2015 và E10 từ năm 2017. Dù lộ trình chưa đúng hạn, ý chí chính trị chưa bao giờ thay đổi: xăng E5 được phân phối toàn quốc từ ngày 1/1/2018, đặt nền cho bước tiếp theo. Quan trọng hơn, định hướng ấy được Đảng nâng tầm thành chủ trương chiến lược qua một chuỗi văn kiện liền mạch, mà ở đó có thể chỉ rõ từng nội dung đề cập tới xăng dầu và nhiên liệu sinh học.
Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt 4 nghị quyết của Bộ Chính trị ngày 16/9/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ: “Mục tiêu cốt lõi là hệ thống năng lượng phải an toàn, ổn định; xác định đột phá trong chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng, phát triển bền vững và hiện thực hóa cam kết Net Zero vào năm 2050”. Tổng Bí thư cũng nhấn mạnh: "Năng lượng ổn định và xanh là điều kiện cần cho sản xuất, cho trường học, bệnh viện…”.
Ngày 20/3/2026, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 14-KL/TW về bảo đảm nguồn cung, ổn định giá nhiên liệu trong tình hình mới, tiếp tục giao Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với biến động giá xăng dầu thế giới; sớm xây dựng chiến lược quốc gia về cung ứng, dự trữ nguyên liệu, nhiên liệu trong dài hạn. Điều đó càng khẳng định, chủ động về nhiên liệu, trong đó có nhiên liệu sinh học là ưu tiên nhất quán trong đường lối chỉ đạo của lãnh đạo Đảng và Nhà nước.
Bảng 2: Lộ trình pháp lý triển khai xăng sinh học tại Việt Nam.
Điểm đáng chú ý trong lộ trình trên là sự chặt chẽ pháp lý theo tầng: Nghị quyết của Đảng định hướng chiến lược; Quyết định của Thủ tướng xác lập khung pháp lý; Thông tư của Bộ Công Thương quy định kỹ thuật; thí điểm thực tiễn kiểm chứng trước khi nhân rộng. Từ tháng 8/2025, E10 đã bán thí điểm tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng, đến nay chưa ghi nhận khiếu nại chính thức nào về chất lượng hay tác động đến động cơ.
Vì an ninh năng lượng quốc gia
Một trong những lý do căn bản nhất để triển khai E10 là bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Việt Nam hiện phải nhập khẩu phần lớn xăng dầu, phụ thuộc trực tiếp vào biến động thị trường quốc tế. Thay thế 10% lượng xăng tiêu thụ bằng ethanol sản xuất trong nước đồng nghĩa giảm tương ứng kim ngạch nhập khẩu, ước tính tiết kiệm gần 1 tỷ USD ngoại tệ mỗi năm.
Trong khi tình hình địa chính trị năng lượng nhiều biến động, tại phiên họp Bộ Chính trị ngày 20/3/2026 đã phải bàn ứng phó biến động giá xăng dầu do tình hình Trung Đông, chủ động về nhiên liệu trong nước lúc này trở thành yêu cầu an ninh quốc gia.
Nguồn ethanol cho E10 được sản xuất từ sắn, ngô, mía, những cây trồng phổ biến trên đất Việt sẽ tạo nên vòng tuần hoàn kinh tế khép kín: nông nghiệp trong nước cung cấp nguyên liệu, công nghiệp chế biến tạo ethanol, nhiên liệu được tiêu dùng trong nước thay vì ngoại tệ chảy ra ngoài.
Lợi ích kép: môi trường trong lành và sinh kế nông dân
Về môi trường, ethanol trong E10 giúp quá trình cháy sạch và triệt để hơn, giảm các khí thải độc hại như CO, HC, SOx, Nox, những tác nhân gây ô nhiễm không khí đô thị nghiêm trọng. Theo tính toán của nhiều chuyên gia, khi triển khai toàn quốc, E10 giúp giảm khoảng 2,5 triệu tấn CO₂ tương đương mỗi năm, đóng góp trực tiếp vào cam kết trung hòa carbon năm 2050 mà Thủ tướng đã công bố tại COP26. Để so sánh, Brazil đạt mức tránh phát thải 71,1 triệu tấn CO₂/năm; EU giảm 6,3% cường độ khí nhà kính giao thông sau 13 năm với tốc độ tăng tiêu thụ xăng dầu thuộc top đầu Đông Nam Á, 2,5 triệu tấn của Việt Nam là đóng góp có trọng lượng thực.
Về nông nghiệp, mỗi nhà máy ethanol khi vận hành thu mua ổn định cho khoảng 15.000 hộ trồng sắn vùng cao; mở rộng sản xuất ethanol tạo đầu ra bền vững cho cây sắn, ngô, mía, những cây trồng chủ lực của nông dân trung du, miền núi, nơi thiếu đầu ra ổn định nhất. Đây là kênh tác động trực tiếp của chính sách năng lượng tới thu nhập nông dân mà không cần cơ chế trợ giá riêng.
Triển khai xăng sinh học không phải quyết định mang tính áp đặt, mà xuất phát từ yêu cầu phát triển bền vững, bảo đảm an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam. Ảnh: Trang Bùi
Chủ trương lớn - thống nhất trong cả hệ thống chính trị và toàn dân
Từ những định hướng và các chuỗi văn kiện trải dài hơn một thập kỷ đã thể hiện một điều rõ ràng: Triển khai E10 không phải “việc nhà” của Bộ Công Thương, đây là bước hiện thực hóa đường lối của Đảng - một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, thống nhất của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của toàn dân: các bộ, ngành định hướng và ban hành chính sách; các địa phương tổ chức hạ tầng phân phối; cơ quan báo chí - truyền thông định hướng nhận thức xã hội; và trên hết, mỗi người dân, mỗi người tiêu dùng là chủ thể quyết định sự thành công qua từng lần đổ xăng.
Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân khẳng định: “Việc triển khai xăng sinh học không phải quyết định mang tính áp đặt, mà xuất phát từ yêu cầu phát triển bền vững, bảo đảm an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam”.
Kinh nghiệm thế giới cho thấy, không quốc gia nào thành công với xăng sinh học nhờ một bộ ngành đơn lẻ. Chương trình Proálcool của Brazil thành công nhờ sự phối hợp của nông nghiệp, công nghiệp, tài chính và truyền thông suốt nhiều thập kỷ. Hoa Kỳ đạt gần 100% E10 vì Quốc hội thông qua Đạo luật Chính sách Năng lượng 2005, lập Tiêu chuẩn Nhiên liệu Tái tạo (RFS); doanh nghiệp đầu tư hạ tầng; người dân chấp nhận tự nhiên vì không thấy khác biệt khi đổ xăng. Các chuyên gia cùng chung một nhận định, chính sách đã có, định hướng lớn của Đảng và Nhà nước đã rõ ràng, trở ngại lớn nhất với Việt Nam nằm ở tâm lý người tiêu dùng, vì thế, truyền thông phải đi trước một bước, đi đúng, đủ và trúng, đáp ứng kịp thời nhu cầu thông tin của người dân.
Tại Việt Nam, ngày 1/6/2026 không phải điểm khởi đầu của xăng E10, đây là ngày câu chuyện nhiên liệu sinh học Việt Nam chính thức bước sang chương mới, sau hành trình hơn một thập kỷ kể từ Quyết định 53/2012/QĐ-TTg. Đường lối đã nhất quán qua Nghị quyết 55-NQ/TW, Nghị quyết 70-NQ/TW và Kết luận 14-KL/TW của Bộ Chính trị; căn cứ pháp lý đã đầy đủ; kinh nghiệm quốc tế đã sẵn có. Điều còn lại là sự đồng thuận và hành động của cả hệ thống chính trị và của từng người dân.
Mỗi lần đổ một bình xăng E10 của người tiêu dùng sẽ là một lá phiếu cho an ninh năng lượng quốc gia, cho bầu trời trong xanh hơn của con cháu mai sau và cho khát vọng đưa Việt Nam sánh vai cùng những quốc gia văn minh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Khi cả nước cùng một ý chí, chủ trương xanh của Đảng sẽ thành hiện thực xanh trên từng cung đường bắt đầu từ điều giản dị nhất: mỗi lần chúng ta đổ xăng.