Bức tranh ngành gỗ khởi sắc
Phát biểu tại Diễn đàn "Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển nguyên liệu bền vững cho ngành gỗ chế biến sâu" do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức vào chiều 23/7, ông Bùi Trung Nghĩa - Phó Chủ tịch VCCI cho rằng: Ngành chế biến gỗ Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc trong những năm qua, trở thành một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của đất nước với hơn 17 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu vào năm 2025.
Ông Bùi Trung Nghĩa - Phó Chủ tịch VCCI phát biểu tại diễn đàn.
Từ một ngành chủ yếu gia công với quy mô nhỏ, đến nay Việt Nam hiện đứng thứ 5 thế giới, thứ 2 châu Á và dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ với sản phẩm đa dạng, hiện diện tại hơn 140 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
“Ngành không chỉ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm cho hàng triệu lao động mà còn là một trong số ít ngành có tỷ lệ tham gia của doanh nghiệp trong nước rất cao trong chuỗi giá trị xuất khẩu” - Phó Chủ tịch VCCI thông tin.
Cũng đánh giá cao vị thế của ngành gỗ Việt Nam trên thị trường toàn cầu, TS. Nguyễn Đức Thành - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng (Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam): Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam những năm qua có sự tăng trưởng tích cực. Theo đó, năm 2023 đạt 13,4 tỷ USD; 2024 là 16,27 tỷ USD; 2025 là 17,2 tỷ USD và mục tiêu đến năm 2026 đạt 19 tỷ USD; năm 2030 là 25 tỷ USD. Cơ cấu thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam tập trung vào các thị trường như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Liên minh châu Âu...
ThS. Bùi Thị Nha Trang - Quản lý bộ phận Chứng nhận các tiêu chuẩn bền vững Control Union - Topic cho rằng: Trong hơn 2 thập kỷ qua, ngành gỗ Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu sản phẩm gỗ lớn trên thế giới.
Tuy nhiên, cùng với xu hướng tăng trưởng của thương mại quốc tế, các yêu cầu đối với sản phẩm gỗ đã thay đổi đáng kể. Trước đây, lợi thế cạnh tranh chủ yếu được quyết định bởi giá thành sản phẩm, chất lượng sản phẩm và công suất, thì nay các nhà nhập khẩu ngày càng quan tâm đến nguồn gốc nguyên liệu, tính hợp pháp, tác động môi trường và trách nhiệm xã hội trong toàn chuỗi cung ứng.
“Thị trường toàn cầu không còn mua một sản phẩm gỗ, mà đang mua một chuỗi dữ liệu chứng minh tính hợp pháp, tính bền vững và dấu chân các-bon của sản phẩm đó. Sự thay đổi này xuất phát từ nhiều yếu tố. Trước hết là các cam kết toàn cầu về biến đổi khí hậu theo Thỏa thuận Paris, mục tiêu phát thải ròng bằng 0 của nhiều quốc gia và tập đoàn đa quốc gia, cùng với yêu cầu thực hiện các tiêu chí ESG trong hoạt động đầu tư và thương mại” - bà Bùi Thị Nha Trang thông tin.
Diễn giả tham gia diễn đàn.
Yêu cầu của ngành gỗ trong giai đoạn mới
Ông Bùi Trung Nghĩa cho rằng, biến động của thương mại quốc tế, các tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, chống mất rừng, giảm phát thải các-bon hay xu hướng tiêu dùng bền vững đang đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới đối với ngành gỗ Việt Nam. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp không chỉ đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản trị mà còn phải có một hệ sinh thái chính sách đủ ổn định, minh bạch và đồng bộ để có thể đầu tư dài hạn.
Theo đó, để đạt 25 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu vào năm 2030, ngành chế biến gỗ không thể tiếp tục tăng trưởng theo chiều rộng dựa trên sinh khối ngắn hạn và nguyên liệu nhập khẩu.
“Việc chuyển đổi sang mô hình lâm nghiệp bền vững, tự chủ nguyên liệu, nâng cấp chuỗi giá trị và tối ưu hiệu suất sinh thái trên mỗi héc-ta đất rừng sẽ quyết định vị thế dài hạn của xuất khẩu gỗ Việt Nam trong bối cảnh thương mại toàn cầu nhiều biến động” - đại diện VCCI khẳng định và cho rằng, phát triển nguồn nguyên liệu bền vững không chỉ là yêu cầu để đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường xuất khẩu mà còn là nền tảng quan trọng giúp doanh nghiệp ngành gỗ nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động nguồn cung, giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu và gia tăng giá trị cho sản phẩm chế biến sâu.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, việc xây dựng chuỗi nguyên liệu minh bạch, có khả năng truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững sẽ quyết định khả năng tham gia sâu hơn của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Diễn đàn thu hút sự quan tâm của đại diện cơ quan chức năng, chuyên gia và doanh nghiệp ngành gỗ.
PGS. TS Lý Tuấn Trường - Viện trưởng Viện Công nghiệp gỗ và Nội thất (Trường Đại học Lâm nghiệp) cho biết: Nếu như trước đây, lợi thế cạnh tranh của ngành gỗ chủ yếu dựa trên năng lực sản xuất và chi phí lao động, thì hiện nay các thị trường quốc tế đang chuyển mạnh sang đánh giá năng lực cạnh tranh dựa trên tính bền vững của toàn bộ chuỗi cung ứng.
Theo đó, các yêu cầu về nguồn gốc gỗ hợp pháp, quản lý rừng bền vững, giảm phát thải các-bon, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm xã hội không còn là xu hướng mà đã trở thành điều kiện bắt buộc đối với nhiều thị trường lớn. Điều đó đồng nghĩa với việc, năng lực cạnh tranh của ngành gỗ không còn được quyết định bởi nhiều doanh nghiệp riêng lẻ mà phụ thuộc ngày càng lớn vào chất lượng và độ bền vững của chuỗi nguyên liệu.
Trong bối cảnh đó, nhiều doanh nghiệp ngành gỗ đã đầu tư phát triển vùng nguyên liệu, ký kết hợp đồng với người trồng rừng hoặc hỗ trợ chứng chỉ quản lý rừng bền vững. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển từ chế biến thô sang chế biến sâu, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường thế giới.
Dưới góc độ doanh nghiệp, ông Phạm Thành Long - Giám đốc thu mua nguyên liệu, Công ty TNHH Triệu Thái Sơn chia sẻ: Công ty có hệ thống nhà máy chế biến gỗ sâu với tổng công suất khoảng 15.000 m³ ván ép mỗi tháng, sử dụng 100% nguyên liệu keo trong nước, tạo việc làm cho hơn 1.000 lao động. Riêng năm 2025, hai nhà máy sản xuất trong hệ thống đạt tổng sản lượng xuất khẩu khoảng 114.579 m³, tương đương 2.491 container.
Những con số này cho thấy, doanh nghiệp chế biến sâu hoàn toàn có năng lực sản xuất, có thị trường, có đơn hàng và có khả năng tạo ra giá trị xuất khẩu lớn. Tuy vậy, các ý kiến tại hội thảo cũng cho rằng, khó khăn lớn nhất hiện nay là nguồn nguyên liệu ổn định, hợp pháp, đủ tuổi và đủ chất lượng cho chế biến sâu ngày càng bị cạnh tranh gay gắt, theo đó cần xây dựng cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu, gắn với truy xuất nguồn gốc số. Đặc biệt, trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng yêu cầu minh bạch về nguồn gốc gỗ, tính hợp pháp, phát thải và trách nhiệm xã hội, việc số hóa chuỗi nguyên liệu không còn là lựa chọn mà là điều kiện bắt buộc nếu doanh nghiệp muốn giữ vững thị trường.
Ngành gỗ Việt Nam muốn đi xa không thể chỉ dựa vào sản xuất thô mà cần đi vào sản phẩm có hàm lượng công nghệ, lao động và giá trị gia tăng cao hơn. Theo đó, cần hỗ trợ doanh nghiệp chế biến sâu tiếp cận nguồn vốn lưu động, tín dụng xanh và các chương trình chuyển đổi công nghệ.