Năm 2026 là năm đầu tiên triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030. Theo Nghị quyết số 01/NQ-CP, Chính phủ yêu cầu tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 15 - 16% so với năm 2025, tương ứng quy mô 546 - 550 tỷ USD. Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định, đây là thách thức không nhỏ.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, Thành viên Tổ tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ đã phân tích những động lực và yêu cầu mới đặt ra cho thương mại Việt Nam.
TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, Thành viên Tổ tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ trao đổi với phóng viên Báo Công Thương - Ảnh: Thái Mạnh
- Năm 2025, kim ngạch thương mại vượt mốc 930 tỷ USD là một kỷ lục trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động. Theo ông, đâu là yếu tố cốt lõi giúp Việt Nam đạt được kết quả này? Dấu mốc này phản ánh điều gì về sức chống chịu cũng như năng lực thích ứng của thương mại Việt Nam?
TS. Võ Trí Thành: Nếu khái quát lại, con số 930 tỷ USD xuất nhập khẩu năm 2025 thực sự gây bất ngờ. Bất ngờ vì tốc độ tăng vượt nhiều dự báo, vượt cả những chỉ tiêu đã điều chỉnh trong năm. Bất ngờ hơn nữa khi nó diễn ra trong bối cảnh chính sách của các nước lớn, đặc biệt là Hoa Kỳ thay đổi mạnh, tạo ra những cú sốc như việc áp thuế đối ứng.
Từ câu chuyện này có hai lớp vấn đề. Thứ nhất là vì sao chúng ta đạt được kết quả đó. Ở đây nổi lên hai trụ cột chính sách và doanh nghiệp. Về chính sách, có thể nhìn thấy 3 nhóm quan trọng.
Nhóm thứ nhất là định hướng đối ngoại. Việt Nam theo đuổi đường lối hội nhập chủ động, cân bằng, đa phương hóa, đa dạng hóa. Chính sự ổn định trong chính sách đối ngoại giúp hạn chế tối đa những cú sốc địa chính trị trực tiếp lên nền kinh tế. Việt Nam không đứng về phía nào trong cạnh tranh giữa các nước lớn mà lựa chọn cách tiếp cận hợp tác cùng có lợi. Cách ứng xử này tạo niềm tin cho đối tác và giữ được không gian chính sách trong bối cảnh thế giới nhiều bất định.
Nhóm thứ hai là chính sách thương mại. Trong khi chủ nghĩa bảo hộ gia tăng ở nhiều nơi, Việt Nam vẫn kiên định với tiến trình tự do hóa thương mại thông qua các FTA. Một mặt mở rộng thêm cơ hội thị trường, mặt khác ứng xử linh hoạt với các thay đổi chính sách từ những đối tác lớn. Việc đàm phán, trao đổi và xử lý các quan ngại liên quan đến thuế quan, biện pháp phi thuế quan, vấn đề trung chuyển… được thực hiện trên tinh thần nghiêm túc và xây dựng.
Nhóm thứ ba là nền tảng trong nước, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ, triển khai các gói hỗ trợ cả phía cung lẫn phía cầu, đẩy mạnh cải cách thể chế, đầu tư hạ tầng, hoàn thiện khung pháp lý và phát triển nguồn nhân lực. Những yếu tố này giúp giảm bớt bất định cho doanh nghiệp và củng cố niềm tin thị trường.
Thứ hai là khả năng thích ứng của doanh nghiệp. Thực tế cho thấy trong giai đoạn Hoa Kỳ tạm dừng thực thi thuế đối ứng để đàm phán, doanh nghiệp Việt Nam đã nhanh chóng tận dụng "cửa sổ thời gian" đó. Họ đẩy mạnh thương thảo, ký kết đơn hàng, điều chỉnh kế hoạch sản xuất và logistics. Nhờ vậy, kim ngạch thương mại tăng mạnh trong giai đoạn chuyển tiếp và góp phần tạo nên bức tranh tăng trưởng chung của năm 2025. Đáng chú ý, xuất khẩu vẫn tăng vào các thị trường lớn như Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Điều này phản ánh một thực tế rộng hơn. Thế giới ngày càng quen với các cú sốc xung đột địa chính trị, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh. Việt Nam cũng chịu tác động nặng nề song dường như đã tích lũy được kinh nghiệm để quản trị rủi ro tốt hơn. Doanh nghiệp ngày càng coi quản trị bất định là một phần của chiến lược kinh doanh thay vì phản ứng thụ động.
Tất nhiên phía trước vẫn còn nhiều thách thức. Quan hệ thương mại với Hoa Kỳ và các đối tác lớn vẫn tiếp tục được đàm phán, xử lý các vấn đề thuế quan và tiêu chuẩn kỹ thuật. Cùng lúc, các yêu cầu mới về xanh, số, tuần hoàn và phát triển bền vững ngày càng rõ rệt.
Nhìn tổng thể, mốc 930 tỷ USD không đơn thuần là một kỷ lục về quy mô. Nó cho thấy nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đã hình thành năng lực chống chịu tốt hơn, biết tận dụng cơ hội trong biến động và từng bước quản trị được rủi ro trong một thế giới nhiều bất định.
- Một vấn đề thường được đặt ra là chất lượng tăng trưởng xuất khẩu, bao gồm tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa và năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Theo ông, đâu là "nút thắt" lớn nhất khiến doanh nghiệp Việt chưa bứt phá mạnh ở khâu có giá trị cao hơn?
TS. Võ Trí Thành: Để chỉ ra một "nút thắt" lớn nhất đó là năng lực nội sinh của doanh nghiệp Việt vẫn còn hạn chế. Thứ nhất, về công nghệ và đổi mới sáng tạo, phần lớn doanh nghiệp của chúng ta vẫn ở vị trí gia công, lắp ráp, tham gia vào khâu có giá trị gia tăng thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đầu tư cho nghiên cứu phát triển còn khiêm tốn, khả năng làm chủ thiết kế, tiêu chuẩn kỹ thuật, hệ thống phân phối và thương hiệu quốc tế chưa cao. Khi chưa làm chủ được công nghệ và thị trường, rất khó để dịch chuyển lên các khâu có giá trị cao hơn.
Thứ hai, quy mô doanh nghiệp nhỏ và mức độ liên kết yếu khiến chúng ta chưa hình thành được hệ sinh thái công nghiệp đủ mạnh. Doanh nghiệp nội địa chưa gắn kết chặt với nhau và với khu vực FDI để tạo thành chuỗi cung ứng trong nước có chiều sâu.
Thứ ba, môi trường hỗ trợ cho đổi mới sáng tạo, phát triển thương hiệu, nâng cao năng lực quản trị đã có cải thiện nhưng chưa đủ đột phá. Chính sách cần đi vào thực chất hơn, tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư dài hạn cho công nghệ và thương hiệu.
Thống kê kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2021 - 2025
Cần nói thêm nữa, nhìn vào mục tiêu năm 2026, có thể thấy chúng ta đang đi đồng thời trên hai trục. Trục thứ nhất là tiếp tục mở rộng kim ngạch. Mục tiêu Quốc hội thông qua là tăng khoảng 8%, trong khi điều hành của Chính phủ kỳ vọng thương mại đóng góp mạnh hơn cho tăng trưởng, thậm chí hướng tới mức hai con số nếu điều kiện thuận lợi. Trong bối cảnh thế giới còn nhiều bất định đây là một mục tiêu cao.
Để đạt được, các nhóm giải pháp cơ bản vẫn là gắn chặt thương mại với chính sách đối ngoại, mở rộng thị trường mới và khai thác sâu hơn thị trường đã có. Dư địa vẫn còn lớn. Thị trường EU với Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) vẫn chưa khai thác hết tiềm năng. Khu vực Trung Đông, châu Phi, Mỹ Latinh mở ra những không gian mới, kể cả qua các FTA đang đàm phán. Ngay trong các FTA đã thực thi như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) hay Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) dư địa gia tăng thị phần vẫn còn đáng kể.
Song nếu chỉ mở rộng kim ngạch theo chiều rộng thì sẽ đến một ngưỡng nhất định. Vấn đề cốt lõi nằm ở trục thứ hai là nâng giá trị gia tăng.
Cùng một mức kim ngạch nếu hàm lượng nội địa thấp thì đóng góp cho GDP không tương xứng. Hiện nay khu vực FDI vẫn chiếm trên dưới 75% kim ngạch xuất khẩu. Điều đó phản ánh vai trò rất lớn của FDI nhưng cũng đặt ra yêu cầu tăng mạnh phần giá trị do doanh nghiệp trong nước tạo ra.
- Khi quy mô thương mại đã tiệm cận ngưỡng nghìn tỷ USD, câu chuyện đặt ra không còn đơn thuần là tăng trưởng về lượng. Theo ông, đâu là những yêu cầu mới đối với chính sách thương mại và cấu trúc xuất nhập khẩu để bảo đảm tăng trưởng đi cùng chất lượng và giá trị gia tăng cao hơn?
TS. Võ Trí Thành:Ở đây có vài hướng then chốt. Thứ nhất là phát triển công nghiệp hỗ trợ và nâng tỷ lệ nội địa hóa. Nhiều chính sách đã ban hành, song kết quả chưa như kỳ vọng. Tuy vậy, bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu mở ra cơ hội mới. Khi các tập đoàn lớn tái định vị sản xuất, doanh nghiệp Việt Nam nếu đủ năng lực có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Thứ hai là đổi mới sáng tạo và nâng hàm lượng khoa học công nghệ. Các định hướng lớn về khoa học công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đang được thể chế hóa. Mục tiêu cuối cùng vẫn là nâng năng suất. Năng suất tăng thì giá trị gia tăng trên mỗi đơn vị sản phẩm tăng.
Thứ ba là nâng chất thu hút FDI. Không chỉ thu hút vốn mà hướng mạnh vào FDI có công nghệ, có lan tỏa, có liên kết với doanh nghiệp trong nước. Chính sách cần vừa bảo đảm cạnh tranh lành mạnh theo cam kết quốc tế, vừa tạo động lực để hình thành hệ sinh thái sản xuất trong nước. Chuyển từ "thu hút bằng mọigiá" sang "thu hút có chọn lọc" là một bước đi bắt buộc nếu muốn nâng giá trị gia tăng.
Thứ tư là phát triển nguồn nhân lực và dịch vụ hỗ trợ. Chuỗi giá trị xuất khẩu ngày nay không chỉ là sản xuất mà còn là logistics, tài chính, thiết kế, marketing, thương mại điện tử. Dịch vụ chất lượng cao giúp tối ưu hóa toàn bộ quá trình, từ đó nâng phần giá trị mà nền kinh tế giữ lại.
Một yếu tố ngày càng quan trọng là phát triển bền vững. Hàng hóa đáp ứng tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn môi trường và trách nhiệm xã hội vừa dễ tiếp cận thị trường vừa có khả năng bán với giá cao hơn. Phần giá cao hơn đó chính là không gian cho giá trị gia tăng lớn hơn.
Tóm lại, năm 2026 đặt ra hai bài toán song hành. Một là tiếp tục giữ nhịp tăng trưởng xuất khẩu trong điều kiện khó khăn. Hai là tái cấu trúc để nâng tỷ trọng giá trị gia tăng do nền kinh tế và doanh nghiệp Việt Nam tạo ra. Nếu đạt 8% kim ngạch mà không cải thiện chất lượng tăng trưởng thì xuất khẩu sẽ khó tiếp tục là động lực chính. Nhưng nếu cùng mức kim ngạch đó mà phần giá trị nội địa cao hơn thì đóng góp cho GDP sẽ lớn hơn nhiều.
Vấn đề không còn chỉ là tăng bao nhiêu phần trăm mà là chúng ta giữ lại được bao nhiêu giá trị từ mỗi đồng xuất khẩu. Đó mới là thước đo thực chất của giai đoạn phát triển mới.
Xin cảm ơn ông!
Thực hiện: HOÀNG NGUYÊN THẢO