Đóng

Xuất khẩu dệt may chuyển hướng tăng trưởng

Tự tin với 48 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu năm nay nhưng ngành dệt may phải thay đổi chất lượng tăng trưởng khi năng lực mở rộng sản xuất theo chiều rộng không còn nhiều.

Ổn định xuất khẩu trong khó khăn

Từ đầu năm đến nay, dệt may Việt Nam đối mặt nhiều sức ép từ chính sách thương mại thay đổi nhanh, xung đột địa chính trị làm tăng chi phí vận tải, cùng yêu cầu ngày càng cao về nguồn gốc nguyên liệu, môi trường, lao động và phát triển xanh.

Dù vậy, 7 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt trên 27 tỷ USD, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm 2025. Riêng tháng 7 đạt khoảng 4,67 tỷ USD, tăng 8,2% so với tháng 6 và 4,3% so với cùng kỳ. Kết quả này đã có sự cải thiện so với mức tăng 1,7% trong 6 tháng đầu năm.

7 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt trên 27 tỷ USD

Đáng chú ý, xuất siêu của ngành sau 7 tháng đạt khoảng 11 tỷ USD, tăng so với mức trên 9 tỷ USD sau 6 tháng. Cùng với đó, các khâu trong chuỗi sản xuất tiếp tục tăng trưởng. Xuất khẩu xơ sợi đạt 2,73 tỷ USD, tăng 11,3%; vải đạt 1,76 tỷ USD, tăng 9,6%; phụ liệu dệt may đạt 929 triệu USD, tăng 11,2%. Trong khi đó, xuất khẩu hàng may mặc đạt 21,13 tỷ USD, tăng 0,7%.

Những con số này cho thấy động lực tăng trưởng của ngành không chỉ nằm ở khâu may mặc cuối cùng. Năng lực sản xuất xơ sợi, vải, phụ liệu được cải thiện góp phần nâng tỷ lệ giá trị tạo ra trong nước, qua đó tăng xuất siêu và giảm dần sự phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu.

Chia sẻ tại Tọa đàm kinh tế mùa hè 2026 diễn ra gần đây, ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) cho rằng, ngành đang chuyển từ sản lượng sang nâng cao chất lượng tăng trưởng. “Đối với ngành dệt may, hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp mạnh và xu hướng phát triển là nâng cao đẳng cấp chứ không chạy theo số lượng”, ông Cẩm nói.

Theo ông, trọng tâm của ngành hiện nay là tăng chất lượng, đầu tư, tự chủ nguồn nguyên liệu và xuất siêu. Tuy nhiên, sức ép lớn nhất vẫn đến từ thị trường Mỹ - nơi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong xuất khẩu dệt may Việt Nam. 7 tháng đầu năm, xuất khẩu sang Mỹ đạt trên 10,84 tỷ USD, tăng 2%, chiếm khoảng 40,13% tổng kim ngạch toàn ngành.

Theo ông Trương Văn Cẩm, hàng dệt may Việt Nam chịu mức thuế bổ sung 12,5% cộng trực tiếp vào thuế tối huệ quốc (MFN), cao hơn 2,5 điểm phần trăm so với Bangladesh, Campuchia, Indonesia, Ấn Độ và một số đối thủ. Trong bối cảnh chi phí sản xuất và logistics cùng tăng, chênh lệch thuế có thể tác động trực tiếp đến giá bán và khả năng giữ đơn hàng.

Sức ép này đã thể hiện rõ hơn tại doanh nghiệp, trả lời phỏng vấn cơ quan truyền thông, bà Phạm Thị Phương Hoa, Tổng Giám đốc Tổng Công ty May Hưng Yên - CTCP cho biết, thị trường hiện nay khó khăn, ảm đạm hơn trước, trong khi đơn hàng cho những tháng cuối năm có dấu hiệu chậm lại. “Chúng tôi cũng có những biện pháp tìm kiếm thêm khách hàng, tìm kiếm thêm thị trường để tránh rủi ro thiếu đơn hàng cho người lao động sản xuất”, bà Hoa nói.

Không chỉ thuế quan, xung đột địa chính trị cũng khiến chi phí vận chuyển tăng, tạo thêm áp lực cho doanh nghiệp trong việc bảo đảm thời gian giao hàng và kiểm soát chi phí.

Tăng trưởng về chất, hướng tới mục tiêu 48 tỷ USD

Sau 7 tháng đạt trên 27 tỷ USD, ngành dệt may còn khoảng 21 tỷ USD phải đạt được trong 5 tháng cuối năm để hướng tới mục tiêu xuất khẩu 48 tỷ USD. Đây là thách thức không nhỏ, nhưng vẫn có cơ sở để kỳ vọng nếu các thị trường lớn không xuất hiện biến động quá bất lợi.

Ngành dệt may đang nỗ lực chủ động nguồn cung nguyên phụ liệu nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng

Để đạt mục tiêu, giữ đơn hàng hiện có và mở rộng thị trường là giải pháp đã và đang được các doanh nghiệp dệt may trong nước thực hiện. Đa dạng hóa thị trường không chỉ giúp doanh nghiệp có thêm cơ hội đơn hàng, mà còn giảm mức độ phụ thuộc khi chính sách tại một thị trường lớn thay đổi.

Cùng với mở rộng thị trường, vấn đề quan trọng hơn nằm ở việc nâng năng lực nội tại. Doanh nghiệp cần đầu tư vào chất lượng, năng suất, công nghệ, chuyển đổi số, xanh hóa và đặc biệt là nâng tỷ lệ nội địa hóa nguyên phụ liệu.

Khi nhiều khâu trong chuỗi được thực hiện trong nước, giá trị giữ lại sẽ cao hơn, đồng thời góp phần cải thiện xuất siêu. Đây cũng là hướng để ngành giảm dần sự phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu và nâng vị thế trong chuỗi cung ứng.

Tại May Hưng Yên, chuyển đổi số đang được triển khai theo hướng đi sâu vào hoạt động sản xuất, quản trị. Bà Phạm Thị Phương Hoa cho hay, doanh nghiệp đã thực hiện chuyển đổi số ở một số bộ phận và dự kiến từ cuối tháng 8 triển khai một phần mềm lớn cho toàn công ty, từ khâu đầu đến khâu cuối.

Khi dữ liệu được cập nhật đồng bộ, doanh nghiệp có thể theo dõi hoạt động từ vật tư, người lao động đến các phòng ban trên một hệ thống thống nhất. Qua đó, công tác quản lý được cải thiện, hiệu quả sản xuất nâng lên và chi phí được tiết giảm.

Nếu chuyển đổi số giúp doanh nghiệp nâng năng suất, chuyển đổi xanh lại ngày càng trở thành điều kiện để giữ khách hàng và tiếp cận đơn hàng mới. May Hưng Yên hiện có 15 nhãn hàng, trong đó có những khách hàng lớn, theo đại diện doanh nghiệp, để duy trì quan hệ với các khách hàng này, doanh nghiệp phải đáp ứng nhiều yêu cầu về môi trường, phòng chống cháy nổ, chính sách xã hội và các tiêu chuẩn khác. “Muốn được khách hàng chấp nhận, chúng tôi phải đáp ứng những điều kiện khách hàng yêu cầu”, bà Hoa chia sẻ. Doanh nghiệp cũng đang tiếp tục triển khai các yêu cầu về xanh hóa, trong đó có việc nghiên cứu, lắp đặt hệ thống điện mái nhà nhằm đáp ứng yêu cầu khách hàng, qua đó tạo thêm cơ hội nhận đơn hàng.

Từ thực tế sản xuất và xuất khẩu có thể thấy, ngành dệt may đang từng bước chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu. Thay vì chỉ tăng lao động và sản lượng, doanh nghiệp hướng tới tăng năng suất, tự chủ nguyên liệu, nâng giá trị mỗi đơn hàng và cải thiện xuất siêu. Đây cũng đồng thời là phép thử về khả năng nâng chất lượng tăng trưởng của một ngành xuất khẩu lớn trong bối cảnh dư địa tăng trưởng theo chiều rộng ngày càng thu hẹp.

Khi dư địa xuất khẩu theo chiều rộng đang bị thu hẹp, ngành dệt may nỗ lực đầu tư ứng dụng khoa học, công nghệ nhằm tăng năng xuất, chủ động nguyên phụ liệu nhằm đưa tăng trưởng của ngành theo chiều sâu thông qua nâng cao giá trị gia tăng, tăng xuất siêu.

Hải Linh