Bức tranh xuất khẩu nhiều gam màu
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tháng 1/2026, Việt Nam xuất khẩu ước đạt 600 nghìn tấn gạo, kim ngạch 370 triệu USD, tăng 12,4% về lượng và 16,9% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu bình quân đạt 616,6 USD/tấn, tăng 4%.
Tháng 1/2026, Việt Nam xuất khẩu ước đạt 600 nghìn tấn gạo, kim ngạch 370 triệu USD. Ảnh minh họa
Nhìn vào con số, đây là một khởi đầu tích cực. Tuy nhiên, theo các doanh nghiệp và chuyên gia trong ngành, nếu đặt trong tương quan quốc tế, bức tranh không hoàn toàn “màu hồng”. Chỉ số Gạo Trắng Oryza (WRI) tuần 2–8/2 đạt 401 USD/tấn, giảm tới 85 USD/tấn so với cùng kỳ năm ngoái. Chỉ số Giá Gạo Toàn cầu (FARPI) tháng 1/2026 của FAO đạt 102,8 điểm, dù tăng nhẹ 1,8% so với tháng trước nhưng vẫn thấp hơn 9,5% so với cùng kỳ năm 2025.
Điều này phản ánh thực tế giá gạo thế giới đã hạ nhiệt đáng kể so với “đỉnh” năm trước, khi nguồn cung dồi dào trở lại. FAO dự báo sản lượng gạo toàn cầu niên vụ 2025/26 đạt 561,6 triệu tấn, trong khi thương mại gạo quốc tế năm 2026 khoảng 60,6 triệu tấn, thấp hơn dự báo trước đó. Tồn kho cuối kỳ tăng lên 217,7 triệu tấn – một con số đủ để các nước nhập khẩu không vội vàng mua vào.
Ở chiều thị trường, Philippines tiếp tục là khách hàng lớn nhất của gạo Việt Nam, chiếm 38,3% thị phần năm 2025. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu gạo sang thị trường này giảm mạnh 39,8% so với năm 2024. Trong khi đó, Ghana và Bờ Biển Ngà nổi lên với mức tăng lần lượt 21,3% và 67,5%. Đáng chú ý, Bangladesh tăng gấp 125 lần, trong khi Malaysia giảm 43,7%.
Sự dịch chuyển này cho thấy cơ cấu thị trường đang biến động nhanh. Phụ thuộc lớn vào một thị trường như Philippines luôn tiềm ẩn rủi ro, nhất là khi nước này vừa mở cửa nhập khẩu trở lại sau lệnh cấm 4 tháng nhưng đồng thời siết chặt quản lý bằng công cụ SPSIC, quy định cập cảng trong 60 ngày và giới hạn qua 17 cảng chỉ định. Việc cấp giấy phép nhỏ giọt theo tháng khiến doanh nghiệp Việt Nam khó chủ động kế hoạch.
Áp lực dồn về vụ Đông Xuân
Trong nước, thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long những ngày cận Tết nhìn chung trầm lắng. Giá gạo nguyên liệu xuất khẩu một số chủng loại như CL 555, Đài Thơm 8 giảm nhẹ 50 đồng/kg; các loại khác tương đối ổn định. Giá lúa tươi dao động quanh 5.200–6.700 đồng/kg tùy giống.
Sự “lặng sóng” này không phải tín hiệu xấu, mà phản ánh tâm lý chờ đợi sau kỳ nghỉ lễ và trước cao điểm thu hoạch vụ Đông Xuân, vụ mùa quan trọng nhất năm, cả về sản lượng lẫn chất lượng. Nhưng chính thời điểm này cũng là phép thử lớn.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Công ty TNHH sản xuất thương mại Phước Thành IV (Vĩnh Long), cho rằng năm 2026 chưa có nhiều tín hiệu khởi sắc. Tồn kho cao tại các nước nhập khẩu khiến hợp đồng mới chủ yếu nhỏ lẻ, mang tính thăm dò. “Nếu mua mới vào thời điểm này, gần như không có lợi nhuận”, ông thẳng thắn.
Trong khi đó, ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), nhận định năm 2026 sẽ nhiều thách thức do nguồn cung thế giới dồi dào. Kế hoạch xuất khẩu điều chỉnh còn khoảng 7 triệu tấn, phù hợp định hướng giảm dần sản lượng xuống 4 triệu tấn vào năm 2030 theo Quyết định 583 của Thủ tướng Chính phủ – giảm lượng để tăng chất.
Đây là sự thay đổi mang tính chiến lược từ “bán sản lượng” sang “bán giá trị”. Nhưng trong ngắn hạn, khi vụ Đông Xuân thu hoạch rộ sau Tết, nếu không có giải pháp tài chính kịp thời, nguy cơ giá lúa giảm sâu là hiện hữu.
VFA kiến nghị ngân hàng linh hoạt tăng hạn mức tín dụng để doanh nghiệp đủ vốn thu mua tạm trữ. Đáng chú ý, thay vì tạm trữ gạo, doanh nghiệp nên tạm trữ lúa khô – có thể bảo quản 6–12 tháng mà vẫn giữ chất lượng, giúp chủ động thời điểm xay xát và xuất bán.
Bên cạnh yếu tố thị trường, một vấn đề nội tại đang nổi lên là yêu cầu hóa đơn VAT trong thu mua lúa gạo. Về nguyên tắc, đây là yêu cầu đúng. Nhưng trong bối cảnh sản xuất manh mún ở Đồng bằng sông Cửu Long, phần lớn nông dân không có tư cách pháp nhân để xuất hóa đơn, quy định này vô hình trung tạo rào cản lưu thông.
Theo ông Thành, vấn đề phát sinh nằm ở quy định thanh toán chuyển khoản đối với các giao dịch trên 5 triệu đồng. Trên thực tế, nhiều nông dân mỗi năm chỉ bán một đến hai vụ lúa, nên họ không mặn mà với việc mở tài khoản ngân hàng. Không ít trường hợp còn e ngại cung cấp giấy tờ tùy thân vì lo ngại rủi ro thông tin cá nhân. Điều này khiến quá trình thu mua gặp nhiều trở ngại: doanh nghiệp muốn tuân thủ đúng quy định nhưng lại khó triển khai trong điều kiện sản xuất nhỏ lẻ, manh mún. Đây không chỉ là câu chuyện riêng của ngành lúa gạo mà cũng là tình trạng chung ở nhiều mặt hàng nông sản khác như sầu riêng và một số sản phẩm chủ lực khác.
Theo một số nghiên cứu, doanh nghiệp chỉ thu mua trực tiếp khoảng 6,5% trong tổng 24,5 triệu tấn lúa hàng hóa mỗi năm; gần 50% qua thương lái. Khi bị yêu cầu hóa đơn, nông dân buộc bán qua trung gian hoặc chấp nhận bị ép giá để “bù” chi phí thuế và rủi ro.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy cho rằng vấn đề không phải bỏ quản lý thuế, mà cần cơ chế linh hoạt hơn như miễn, giảm hoặc khoán thuế khi thu mua trực tiếp từ nông dân; mở rộng vai trò hợp tác xã làm đầu mối xuất hóa đơn; hoặc áp dụng chứng từ thu mua đặc thù cho nông sản thô.
Nếu gỡ được nút thắt này, chi phí tài chính giảm, dòng tiền lưu chuyển nhanh hơn, khả năng cạnh tranh về giá của gạo Việt sẽ cải thiện rõ rệt – lợi ích không chỉ cho doanh nghiệp mà còn quay trở lại với nông dân thông qua giá thu mua ổn định.
Ở góc độ dài hạn, thị trường đang gửi đi một thông điệp rõ ràng phân khúc thấp và trung bình sẽ ngày càng khó cạnh tranh khi nhiều nước chủ động nguồn cung. Cơ hội thực sự nằm ở phân khúc cao cấp như thị trường Nhật Bản, EU, Mỹ, Australia, Trung Đông nơi yêu cầu cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát thải thấp.
Ông Nguyễn Văn Thành chia sẻ, gạo Việt có lợi thế về giống và năng lực chế biến. Vấn đề là kiên định chiến lược nâng giá trị thay vì chạy theo số lượng. Khi chất lượng được đặt lên hàng đầu, khi chuỗi liên kết được tổ chức bài bản và khi chính sách đủ linh hoạt để đồng hành cùng doanh nghiệp – nông dân, hạt gạo Việt mới thực sự bước ra thị trường toàn cầu với vị thế khác.
Con số tăng trưởng tháng 1 là tín hiệu khích lệ. Nhưng điều quyết định năm 2026 không nằm ở vài phần trăm tăng thêm, mà ở việc ngành gạo có tận dụng được giai đoạn “chuyển pha” này để tái cấu trúc mạnh mẽ hơn hay không. Nếu làm được, mục tiêu giảm lượng – tăng chất sẽ không chỉ là khẩu hiệu, mà trở thành nền tảng cho một chu kỳ tăng trưởng bền vững mới.
Trong bối cảnh thị trường năm 2026 được dự báo còn nhiều biến động, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, cơ cấu gạo xuất khẩu năm 2026 sẽ tiếp tục dịch chuyển theo hướng gia tăng tỷ trọng gạo chất lượng cao và gạo thơm, với sản lượng ước khoảng 5,8 triệu tấn, chiếm 75% tổng kim ngạch xuất khẩu nhằm góp phần giảm phụ thuộc vào phân khúc giá thấp và phân tán rủi ro thị trường.