Đóng

Xuất khẩu gỗ: Chìa khóa tăng trưởng nằm ở thương hiệu

Ngành gỗ đang đứng trước cơ hội xuất khẩu tăng trưởng, nhưng cạnh tranh toàn cầu đòi hỏi doanh nghiệp phải tập trung xây dựng thương hiệu mạnh, khác biệt và bền vững.

Xu hướng thị trường: Chuyển dịch để thích ứng

Theo số liệu Cục Hải quan (Bộ Tài chính), kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam 3 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3,7 tỷ USD, giảm 5% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó, sản phẩm gỗ đạt 2,4 tỷ USD, giảm gần 10%. Tuy nhiên, con số này vẫn phản ánh sự ổn định của ngành trong bối cảnh thị trường toàn cầu phục hồi, với nhu cầu xây dựng và nội thất tại các thị trường trọng điểm như EU, Mỹ và châu Á đang tăng trở lại.

Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 3 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3,7 tỷ USD. Ảnh minh họa

Riêng tháng 3/2026, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,15 tỷ USD, tăng 18,7% so với tháng 2, trong đó sản phẩm gỗ đạt 760 triệu USD, tăng 27,4%. Dù vậy, so với cùng kỳ năm ngoái, xuất khẩu vẫn giảm trên 20%, cho thấy ngành gỗ Việt Nam đang phải đối mặt với cả cơ hội lẫn thách thức trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Về thị trường, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang thị trường Mỹ giảm tỷ trọng từ 52,9% xuống còn 48,8%, kim ngạch 2 tháng đầu năm đạt 1,26 tỷ USD, giảm 3,1% so với cùng kỳ. Trong khi đó, Trung Quốc trở thành thị trường tiêu thụ chính cho dăm gỗ và ván bóc, tăng 48,5% lên 390,8 triệu USD. Thị trường Nhật Bản tăng 7,9% đạt 349,5 triệu USD, tiếp tục là thị trường ổn định của sản phẩm nội thất cao cấp. Còn tại thị trường EU ghi nhận tăng trưởng ngoạn mục 54%, trong đó Italia tăng 192,4% và Hà Lan tăng 150,7%, nhờ tận dụng ưu đãi thuế quan từ Hiệp định EVFTA và sự phục hồi của ngành xây dựng.

Căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông đã tác động mạnh tới chuỗi cung ứng ngành gỗ. Trước tình hình này, các doanh nghiệp gỗ Việt Nam chủ động điều chỉnh chiến lược xuất khẩu theo hướng đa dạng hóa thị trường, giảm phụ thuộc vào thị trường truyền thống và tối ưu hóa chi phí logistics thông qua thị trường gần. Xuất khẩu sang EU và Trung Quốc cho thấy doanh nghiệp Việt Nam cũng đang tận dụng tốt các cơ hội từ thị trường ngách và xu hướng xây dựng xanh.

Trong 3 tháng đầu năm, nhóm mặt hàng gỗ nguyên liệu và bán thành phẩm gồm gỗ ván, dăm gỗ và viên gỗ nén tăng trưởng mạnh. Gỗ ván tăng 23,9% chiếm tỷ trọng 14,4% tổng kim ngạch, dăm gỗ tăng 9,5%, viên nén tăng 14,2%. Điều này cho thấy Việt Nam đang trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Ngược lại, nhóm đồ nội thất bằng gỗ phân hóa rõ rệt: ghế khung gỗ tăng 9,1% vẫn là mặt hàng chủ lực nhờ tính ứng dụng cao và giá thành hợp lý, trong khi đồ nội thất phòng khách và phòng ăn giảm 6,6%, phòng ngủ giảm 4,5%, nội thất văn phòng giảm 14% và nhà bếp giảm 12,7%. Xu hướng này phản ánh thắt chặt chi tiêu tại các thị trường giá trị cao hậu lạm phát.

Để duy trì đà tăng trưởng, các doanh nghiệp đang tập trung vào phân khúc ván sàn, bán thành phẩm và nội thất thiết yếu, đồng thời đảm bảo nguồn gốc gỗ hợp pháp và các chứng chỉ bền vững như FSC, PEFC và EUDR, đặc biệt quan trọng với thị trường EU.

Ngành gỗ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức do xung đột tại khu vực Trung Đông và quy định bền vững EUDR tại châu Âu yêu cầu hệ thống truy xuất nguồn gốc nghiêm ngặt.

Tuy nhiên, cơ hội cũng đang đến với ngành từ thị trường ngách và xây dựng xanh, giúp tận dụng các ưu đãi thuế EVFTA và nhu cầu nội thất, xây dựng hồi phục tại EU và Trung Quốc; sản phẩm thiết yếu, nội thất thông minh và đa năng, phù hợp với chi tiêu thắt chặt của người tiêu dùng Mỹ, EU; đa dạng hóa thị trường châu Á, giảm rủi ro chi phí vận tải dài ngày.

Do đó, Bộ Công Thương khuyến nghị các doanh nghiệp cần ưu tiên đơn hàng FOB, đa dạng hóa logistics, tập trung sản phẩm thiết yếu và đảm bảo chứng chỉ bền vững để duy trì xuất khẩu trong bối cảnh biến động thị trường.

Xây dựng thương hiệu: Nấc thang cao nhất của ngành gỗ Việt

Theo ông Nguyễn Minh Cương, Tổng Giám đốc Công ty Gỗ Minh Long, giá trị của ngành gỗ không còn nằm ở khâu sản xuất mà tập trung vào thiết kế và thương hiệu. Thực tiễn thế giới cho thấy, doanh nghiệp nắm thiết kế và mẫu mã sẽ chủ động thị trường, còn sản xuất có thể phân bổ cho các quốc gia gia công. Việt Nam sở hữu trí tuệ, tay nghề và thẩm mỹ cao, tạo lợi thế để phát triển nền kinh tế sáng tạo, nhưng cần ngân sách ổn định 2–5% doanh thu cho R&D trong 3–5 năm để hiện thực hóa tiềm năng.

Ông Vũ Minh Long nhấn mạnh, ngành gỗ Việt Nam vẫn thiếu các thương hiệu mạnh, trong khi thị trường nội địa chưa hình thành những dấu ấn nhận diện rõ ràng. “Ngành gỗ và nội thất Việt Nam cần hình thành thương hiệu riêng, mang bản sắc và giá trị riêng, tương tự ngành ẩm thực với phở Hà Nội, bún bò Huế hay mì Quảng. Đây sẽ là bước phát triển tiếp theo trên hành trình nâng tầm ngành”, ông Cương nhấn mạnh.

Thương hiệu quốc gia không chỉ nâng giá trị xuất khẩu mà còn giúp doanh nghiệp Việt tăng giá trị gấp nhiều lần mà không cần thay đổi sản phẩm. Đầu tư vào chế biến sâu, nâng cấp chuỗi từ nguyên liệu đến thành phẩm và xây dựng thương hiệu quốc gia là yếu tố sống còn để phát triển bền vững.

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, ngành gỗ cần quy hoạch rừng sản xuất quy mô lớn, trở thành “chợ vật liệu” của châu Á. Bên cạnh đó, đầu tư vào công nghệ chế biến sâu để tăng giá trị gia tăng. Đồng thời, nâng cấp toàn bộ chuỗi giá trị, từ nguyên liệu, chế biến, đến thương hiệu.

Ông Vũ Minh Long nhấn mạnh: “Ngành lâm nghiệp và gỗ không thể chỉ dựa vào khai thác; muốn phát triển bền vững, phải nâng cấp toàn bộ chuỗi giá trị và xây dựng thương hiệu quốc gia mạnh”. Đây là đòn bẩy quan trọng giúp ngành gỗ Việt Nam bứt phá, khẳng định vị thế trên bản đồ xuất khẩu toàn cầu.

Với những chiến lược đúng hướng, kết hợp đa dạng hóa thị trường, sản phẩm thiết yếu, chế biến sâu và thương hiệu quốc gia, ngành gỗ Việt Nam hoàn toàn có thể duy trì đà tăng trưởng bền vững, nâng giá trị xuất khẩu và khẳng định vị thế quốc tế trong những năm tới.

Nguyễn Hạnh