Đóng

Xuất khẩu quả bưởi, chanh sang Trung Quốc: Cơ hội đi cùng áp lực

Trung Quốc mở cửa chính ngạch cho quả bưởi, chanh Việt Nam mở ra cơ hội lớn cho ngành rau quả, nhưng cũng đặt ra yêu cầu khắt khe năng lực tuân thủ.

Quả bưởi, chanh bước vào cuộc chơi tiêu chuẩn

Sau 8 năm đàm phán, tháng 4/2026, Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với quả bưởi và chanh tươi xuất khẩu sang Trung Quốc đã chính thức được ký kết. Đây không chỉ là thêm một thị trường được mở cửa, mà còn là dấu hiệu cho thấy ngành rau quả Việt Nam đang tiếp tục mở rộng hiện diện tại thị trường lớn nhất của mình.

Sau 8 năm đàm phán, tháng 4/2026, Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với quả bưởi và chanh tươi xuất khẩu sang Trung Quốc đã chính thức được ký kết. Ảnh minh họa

Bưởi và chanh vốn là hai loại trái cây có lợi thế cạnh tranh rõ nét của Việt Nam. Theo số liệu của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), hiện diện tích bưởi cả nước đạt khoảng 106.000 ha, sản lượng hơn 1 triệu tấn mỗi năm; chanh đạt hơn 44.000 ha với sản lượng gần 700.000 tấn, tập trung chủ yếu tại Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ.

Thông tin thị trường Trung Quốc mở cửa chính ngạch cho hai mặt hàng này ngay lập tức tạo thêm kỳ vọng cho ngành rau quả trong bối cảnh xuất khẩu đang phục hồi tích cực. Theo số liệu của Hiệp hội Rau quả Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu rau quả 4 tháng đầu năm 2026 đạt gần 2,06 tỷ USD, tăng khoảng 22% so với cùng kỳ năm trước. Từ đà tăng trưởng này, ngành rau quả đang hướng tới mục tiêu xuất khẩu 10 tỷ USD trong năm 2026.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho rằng nhu cầu tiêu thụ quả bưởi và chanh tại Trung Quốc rất lớn, đặc biệt là bưởi da xanh. Đây là nhóm trái cây có mức tiêu thụ tương đối ổn định quanh năm, không phụ thuộc quá nhiều vào yếu tố mùa vụ. Việc mở cửa thêm cho bưởi và chanh sẽ giúp ngành rau quả Việt Nam có thêm dư địa tăng trưởng trong bối cảnh nhiều thị trường lớn đang ngày càng siết chặt tiêu chuẩn kỹ thuật.

Tuy nhiên, điều đáng chú ý là Trung Quốc hiện không còn là thị trường “dễ tính” như trước. Nếu giai đoạn trước, xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc chủ yếu dựa vào lợi thế khoảng cách địa lý và nhu cầu tiêu thụ lớn, thì nay thị trường này đã chuyển mạnh sang mô hình quản lý nhập khẩu theo tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng. Điều đó đồng nghĩa lợi thế về sản lượng hay giá bán không còn đủ để bảo đảm khả năng cạnh tranh. Yếu tố quyết định ngày càng nằm ở năng lực tổ chức sản xuất và khả năng tuân thủ quy định kỹ thuật.

Mã số vùng trồng trở thành “tấm hộ chiếu” xuất khẩu

Một trong những thay đổi lớn nhất của xuất khẩu nông sản hiện nay là mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói đã trở thành điều kiện bắt buộc để xuất khẩu chính ngạch. Nếu trước đây nhiều vùng trồng chủ yếu tiêu thụ qua thương lái hoặc xuất khẩu tiểu ngạch, thì nay muốn đi đường dài buộc phải chuyển sang mô hình sản xuất bài bản, minh bạch và có khả năng truy xuất nguồn gốc.

Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, mã số vùng trồng được xem như “chứng minh thư” của khu vực sản xuất, giúp cơ quan nhập khẩu truy xuất nguồn gốc, quy trình canh tác và mức độ đáp ứng các yêu cầu an toàn thực phẩm. Để được cấp mã số, vùng trồng phải đáp ứng hàng loạt tiêu chí nghiêm ngặt về nhật ký sản xuất, quản lý sinh vật gây hại, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, điều kiện vệ sinh và khả năng truy xuất nguồn gốc. Đặc biệt, mã số chỉ có hiệu lực khi được phía nhập khẩu phê duyệt.

Quan trọng hơn, mã số vùng trồng không phải “cấp xong là xong”. Chỉ cần một lô hàng vi phạm quy định về kiểm dịch thực vật hoặc an toàn thực phẩm, mã số vùng trồng hay cơ sở đóng gói có thể bị tạm dừng hoặc thu hồi. Điều này cho thấy các thị trường nhập khẩu hiện không chỉ kiểm tra hàng hóa tại cửa khẩu mà đã chuyển sang kiểm soát toàn bộ chuỗi sản xuất.

Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, nhiều thị trường, đặc biệt là Trung Quốc, đang chuyển mạnh từ “mở cửa thị trường” sang “kiểm soát chặt điều kiện nhập khẩu”. Vì vậy, tổ chức sản xuất theo chuỗi, kiểm soát chất lượng và quản lý chặt mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói đã trở thành điều kiện bắt buộc để duy trì xuất khẩu bền vững.

Ông Hoàng Trung, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho rằng việc ký kết Nghị định thư xuất khẩu bưởi và chanh sang Trung Quốc là dấu mốc quan trọng với ngành rau quả Việt Nam. Tuy nhiên, đi cùng cơ hội là yêu cầu quản lý ngày càng chặt chẽ hơn. Theo đó, các quy định trong Nghị định thư yêu cầu kiểm soát nghiêm ngặt từ vùng trồng, cơ sở đóng gói, giám sát sinh vật gây hại, xử lý sau thu hoạch đến kiểm tra tại cửa khẩu nhập cảnh. Chỉ một lô hàng vi phạm cũng có thể ảnh hưởng tới uy tín toàn ngành, thậm chí dẫn tới việc tạm dừng mã số vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói.

Hiện cả nước có 9.546 mã số vùng trồng và 1.525 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu trái cây sang nhiều thị trường. Riêng thị trường Trung Quốc hiện có 4.323 mã số vùng trồng và 1.332 mã số cơ sở đóng gói đang hoạt động. Tuy nhiên, quy mô hệ thống càng lớn thì áp lực quản lý càng cao. Chỉ cần xảy ra vi phạm về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm hoặc gian lận mã số cũng có thể ảnh hưởng tới uy tín quốc gia và làm gia tăng nguy cơ bị siết kiểm tra hoặc tạm dừng nhập khẩu.

Trong bối cảnh đó, việc Chính phủ ban hành Nghị định 38/2026/NĐ-CP được xem là bước chuyển quan trọng nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý về quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói theo hướng minh bạch, thống nhất và có trách nhiệm hơn.

Theo các chuyên gia, doanh nghiệp, giống như sầu riêng, câu chuyện mở cửa thị trường với quả bưởi và chanh tươi hiện nay không còn dừng ở đàm phán thương mại. Điều quan trọng hơn là năng lực duy trì thị trường sau khi mở cửa. Với ngành rau quả, đặc biệt là các mặt hàng có giá trị cao như quả bưởi và chanh tươi, cuộc cạnh tranh hiện nay không chỉ nằm ở sản lượng hay giá bán, mà nằm ở chất lượng, khả năng truy xuất nguồn gốc và năng lực tuân thủ của cả chuỗi sản xuất.

Ông Hoàng Trung, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh: Muốn đi xa phải đi bài bản; muốn giữ thị trường phải giữ uy tín; muốn nâng giá trị phải nâng chất lượng và năng lực tuân thủ.

Nguyễn Hạnh