Truy xuất nguồn gốc trở thành yêu cầu cấp thiết
Theo thông tin từ Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), vừa qua, Tổng thống Hoa Kỳ đã ban hành Bản ghi nhớ gửi Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) về các hành động theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 đối với 60 nền kinh tế liên quan đến việc chưa ban hành hoặc chưa thực thi hiệu quả lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức.
Việt Nam nằm trong danh sách các nền kinh tế thuộc phạm vi xem xét. Theo Bản ghi nhớ, hàng hóa có xuất xứ Việt Nam thuộc nhóm áp dụng mức thuế 12,5%, trừ các sản phẩm được miễn theo phụ lục. Đáng chú ý, chính sách của Hoa Kỳ nhấn mạnh yếu tố hàng hóa được sản xuất "toàn bộ hoặc một phần" bằng lao động cưỡng bức, cho thấy việc kiểm soát không chỉ dừng ở sản phẩm cuối cùng mà mở rộng tới toàn bộ chuỗi cung ứng.
Hệ thống truy xuất nguồn gốc hàng hóa của Bộ Công Thương được vận hành tập trung tại địa chỉ www.VeriGoods.vn. Ảnh chụp màn hình
Cũng theo Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, mặc dù Bản ghi nhớ không quy định cụ thể quy trình truy xuất nguồn gốc đối với doanh nghiệp Việt Nam, song để chứng minh sản phẩm không liên quan đến lao động cưỡng bức, doanh nghiệp cần có khả năng xác định đầy đủ nguồn gốc nguyên liệu, nhà cung cấp, địa điểm sản xuất và quá trình hình thành sản phẩm.
Yêu cầu này đặc biệt quan trọng đối với các ngành có chuỗi cung ứng nhiều tầng như dệt may, da giày, điện tử, thiết bị điện, sản phẩm sử dụng linh kiện bán dẫn… Đơn cử, đối với ngành dệt may, việc truy xuất không chỉ dừng ở công đoạn cắt, may mà còn phải xác định được nguồn gốc bông, xơ, sợi, vải và các nguyên phụ liệu
Chủ động triển khai quy định của Bộ Công Thương
Trước yêu cầu ngày càng cao từ các thị trường xuất khẩu, trước đó, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 31/2026/TT-BCT ngày 11/6/2026 quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của Bộ.
Theo đó, việc truy xuất nguồn gốc được áp dụng bắt buộc đối với nhóm sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao; các nhóm hàng hóa khác được khuyến khích tự nguyện triển khai. Doanh nghiệp có thể khai báo trực tiếp trên Hệ thống truy xuất nguồn gốc hàng hóa của Bộ Công Thương hoặc xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc nội bộ có khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu với hệ thống của Bộ, đồng thời bảo đảm yêu cầu về bảo mật thông tin và an ninh mạng.
Lưu ý, phạm vi hàng hóa có nguy cơ bị Hoa Kỳ kiểm tra về lao động cưỡng bức, chuyển tải hoặc lẩn tránh biện pháp thương mại không hoàn toàn trùng với danh mục hàng hóa rủi ro cao theo quy định trong nước. Vì vậy, ngay cả đối với những nguyên liệu chưa thuộc diện quản lý bắt buộc, doanh nghiệp vẫn cần chủ động kiểm soát và truy xuất sâu hơn theo yêu cầu của từng thị trường xuất khẩu.
Để giảm thiểu rủi ro, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước cũng khuyến nghị: Doanh nghiệp cần khẩn trương rà soát toàn bộ chuỗi cung ứng; lập bản đồ các nhà cung cấp ở nhiều cấp; lưu giữ đầy đủ hồ sơ về nguồn gốc nguyên liệu, địa điểm sản xuất, vận chuyển và giao nhận; phân loại nhà cung cấp theo mức độ rủi ro; chuẩn hóa dữ liệu truy xuất theo từng sản phẩm, lô hàng hoặc số sê-ri.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần kiểm soát chặt chẽ xuất xứ hàng hóa, không tiếp tay cho các hành vi chuyển tải bất hợp pháp hoặc gian lận xuất xứ; đồng thời đưa các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, lao động và xuất xứ vào hợp đồng với nhà cung cấp để nâng cao trách nhiệm trong toàn chuỗi cung ứng.
Doanh nghiệp cũng cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ và đầu mối xử lý khi cơ quan quản lý hoặc đối tác nhập khẩu yêu cầu xác minh. Hệ thống dữ liệu phải bảo đảm khả năng truy xuất ngược từ thành phẩm đến nguyên liệu và truy xuất xuôi từ nguyên liệu đến từng lô sản phẩm. Đây là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp giảm nguy cơ hàng hóa bị kiểm tra, tạm giữ hoặc từ chối nhập khẩu.
Việc triển khai hiệu quả Thông tư số 31/2026/TT-BCT được kỳ vọng góp phần xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trong khi thương mại toàn cầu đang có nhiều thay đổi.