Theo câu hỏi của công dân gửi tới Bộ Nội vụ, điều 19 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tinh giản biên chế quy định đối tượng tinh giản biên chế đang được cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo Nghị định số 29/2023/NĐ-CP hoặc đã được cấp có thẩm quyền giải quyết theo Nghị định số 29/2023/NĐ-CP nhưng đến ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành vẫn chưa được nhận chế độ thì được tính toán lại và cấp bổ sung phần chênh lệch theo chính sách quy định tại Nghị định này.
Bộ Nội vụ mới có giải đáp về mốc thời gian căn cứ tính toán, cấp bổ sung chế độ chênh lệch khi tinh giản biên chế. Ảnh minh họa
Từ đó, công dân băn khoăn cụm từ "chưa được nhận chế độ" được hiểu là thời điểm người lao động thực tế nhận tiền hỗ trợ (nhận tiền mặt hoặc tiền được chuyển vào tài khoản ngân hàng), hay là thời điểm cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kinh phí chi trả.
Trả lời vấn đề này, Bộ Nội vụ cho biết, theo Điều 19 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP ngày 15/6/2025 của Chính phủ, việc xác định chế độ, chính sách đối với các đối tượng tinh giản biên chế được căn cứ vào thời điểm cấp có thẩm quyền ban hành quyết định cho đối tượng nghỉ việc và hưởng chế độ, chính sách tinh giản biên chế.
Như vậy, mốc để xem xét áp dụng chính sách không phải là ngày người lao động thực nhận tiền hỗ trợ, mà là thời điểm cơ quan có thẩm quyền quyết định cho nghỉ việc và giải quyết chế độ tinh giản biên chế.
Ngoài ra, tại Điều 12 và Điều 14 của Nghị định số 154/2025/NĐ-CP, Chính phủ đã phân cấp cho chính quyền địa phương trong việc giải quyết chính sách tinh giản biên chế đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý.
Đối với trường hợp cụ thể nêu trên, Bộ Nội vụ cũng đề nghị công dân liên hệ cơ quan có thẩm quyền tại địa phương để được xem xét, giải quyết cụ thể theo quy định hiện hành.
Bên cạnh đó, điều 5 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP nêu rõ cách xác định thời gian và tiền lương để tính hưởng trợ cấp tinh giản biên chế. Cụ thể, quy định tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp tinh giản biên chế là mức lương tháng liền kề trước khi tinh giản, gồm lương theo ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp theo quy định.
Với người nghỉ không lương hoặc nghỉ ốm đau, áp dụng mức lương trước khi nghỉ. Thời gian công tác tính trợ cấp là tổng thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chưa hưởng chế độ liên quan. Thời gian lẻ được làm tròn từ 1-6 tháng tính 0,5 năm, trên 6 tháng tính 1 năm. Thời điểm xác định tuổi nghỉ hưu là ngày 1 của tháng liền sau tháng sinh.