Hoàn thiện thể chế, tăng cường thu hút đầu tư
Ngay sau phiên khai mạc Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 3/8, Quốc hội nghe trình bày các tờ trình, báo cáo về các nội dung: dự án Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; dự án Nghị quyết của Quốc hội quy định cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại Đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang; dự án Luật Dầu khí (sửa đổi).
Được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng đã trình bày tờ trình về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi).
Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết, sau hơn 3 năm triển khai thi hành, Luật Dầu khí năm 2022 đã từng bước phát huy hiệu quả, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động dầu khí, góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy đầu tư, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và bảo đảm an ninh năng lượng. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, biến động của thị trường năng lượng và thực tiễn triển khai, một số quy định cần tiếp tục được hoàn thiện để tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển ngành dầu khí.
Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng trình bày tờ trình về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi).
Bộ trưởng Bộ Công Thương cũng nhấn mạnh việc xây dựng dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) nhằm tiếp tục thể chế hóa chủ trương của Đảng, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, tăng cường phân cấp, phân quyền, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, khai thác hiệu quả tài nguyên và góp phần giữ vững an ninh năng lượng, chủ quyền quốc gia.
Theo đó, dự án Luật tập trung thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về phát triển ngành công nghiệp năng lượng, trong đó có ngành dầu khí; đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát; kế thừa, hoàn thiện các quy định hiện hành, bảo đảm tính ổn định và phù hợp với thực tiễn; đồng thời có chính sách phù hợp nhằm tăng cường tự chủ trong cung cấp dịch vụ dầu khí kỹ thuật cao.
Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định tiến bộ của Luật Dầu khí năm 2022 (hiện hành) và cụ thể hóa 5 nhóm chính sách đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 81/NQ-CP ngày 3/4/2026, bao gồm:
Thứ nhất, đơn giản hóa thủ tục, tăng cường phân quyền, giao quyền.
Thứ hai, hoàn thiện quy định về hợp đồng và hoạt động dầu khí.
Thứ ba, về chính sách ưu đãi đầu tư.
Thứ tư, về phát triển chuỗi giá trị dầu khí, dịch vụ kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi.
Thứ năm, quy định khung cho việc giảm phát thải khí nhà kính, thu giữ và lưu trữ các-bon.
Đồng thời, bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và thông lệ công nghiệp dầu khí quốc tế.
Trên cơ sở đó, dự thảo Luật có 12 chương, 62 điều (so với Luật Dầu khí hiện hành gồm 11 chương 69 điều), cơ bản kế thừa các quy định của Luật Dầu khí năm 2022, đồng thời sửa đổi, bổ sung các quy định về điều tra cơ bản về dầu khí, lựa chọn nhà thầu, hợp đồng dầu khí, hoạt động dầu khí, ưu đãi đầu tư, kế toán, kiểm toán và chức năng, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể liên quan.
Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng trình bày tờ trình về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi).
Đáng chú ý, theo Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng, dự thảo bổ sung các quy định về khai thác tận thu; khung pháp lý về thu giữ và lưu trữ các-bon (CCS); dịch vụ kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí, đáp ứng yêu cầu phát triển mới của ngành dầu khí.
“Việc sửa đổi Luật Dầu khí lần này nhằm tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí; tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn; tăng cường phân cấp, phân quyền; tạo cơ chế, chính sách phù hợp để thu hút đầu tư, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên dầu khí. Đồng thời, từng bước mở rộng không gian phát triển của ngành dầu khí gắn với dịch vụ kỹ thuật cao, năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí và yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính”, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết.
Làm rõ nội dung phân quyền, giao quyền
Trình bày báo cáo thẩm tra dự án Luật Dầu khí (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết, Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhất trí với sự cần thiết, cơ sở chính trị, cơ sở thực tiễn, mục tiêu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về dầu khí.
Trong quá trình hoàn thiện dự thảo Luật, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị cơ quan đề xuất chính sách thực hiện đầy đủ trách nhiệm báo cáo, xin ý kiến cấp có thẩm quyền đối với nội dung thuộc diện cần xin ý kiến cấp có thẩm quyền trước khi trình Quốc hội thông qua, tuân thủ đúng và đầy đủ Quy định số 178-QĐ/TW của Bộ Chính trị.
Ủy ban Kinh tế và Tài chính cũng cho ý kiến về một số nội dung cụ thể.
Trước hết, về hoạt động thu giữ, xử lý, vận chuyển, bơm ép và lưu trữ CO2; ứng dụng dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao; phát triển công trình năng lượng ngoài khơi gắn với triển khai hoạt động dầu khí. Ủy ban Kinh tế và Tài chính tán thành việc bổ sung các quy định mang tính nguyên tắc tại dự thảo Luật điều chỉnh hoạt động CCS gắn với hoạt động dầu khí, các hoạt động đầu tư, triển khai công trình năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí, tạo sự thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động mang tính “cộng sinh”, bổ trợ trong quá trình triển khai hoạt động dầu khí góp phần tăng cường thu hút đầu tư cho hoạt động dầu khí.
Để tiếp tục hoàn thiện, Chủ nhiệm Ủy ban đề nghị: rà soát kỹ lưỡng các quy định tại Luật, bảo đảm phù hợp với phạm vi điều chỉnh của Luật, chỉ quy định mang tính nguyên tắc, thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội, tạo cơ sở để Chính phủ quy định chi tiết; giữ khái niệm “hoạt động dầu khí” như Luật hiện hành; cân nhắc sự cần thiết bổ sung khái niệm “chuỗi giá trị dầu khí”.
Mặt khác, đề nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành khẩn trương tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện khung pháp lý toàn diện để triển khai dự án CCS, dự án năng lượng ngoài khơi độc lập, bảo đảm tính tổng thể, dài hạn, tạo thuận lợi cho việc triển khai có hiệu quả các hoạt động đầu tư mới này.
Thứ hai, về ứng dụng dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao, đề nghị làm rõ sự cần thiết, tính đặc thù, hợp lý, ý nghĩa của việc phải quy định nội dung này tại Luật Dầu khí; trường hợp thực sự cần thiết, chỉ quy định mang tính nguyên tắc về Nhà nước có chính sách khuyến khích ứng dụng dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao.
Thứ ba, về phân cấp, phân quyền, giao quyền: Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị rà soát nội dung phân quyền cho Bộ Công Thương, bảo đảm phù hợp với nguyên tắc phân cấp, phân quyền theo Luật Tổ chức Chính phủ, xác định rõ trách nhiệm xuyên suốt của Bộ trong quản lý nhà nước về dầu khí và đối với nội dung hợp đồng được ký kết. Đối với thẩm quyền chấp thuận chủ trương dự án phát triển, phát triển mỏ có chuỗi đồng bộ công trình, thiết bị trên đất liền và trên biển, cần có quy định rõ ràng, cơ sở pháp lý vững chắc vì liên quan đến nhiều bộ, ngành, địa phương và loại quy hoạch khác nhau.
Rà soát việc giao quyền cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia bảo đảm hợp lý, khả thi; quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, cơ chế và điều kiện tương xứng để thực hiện nhiệm vụ được giao. Cần làm rõ phạm vi trách nhiệm và giá trị ràng buộc của các ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí đối với quyết định của Tập đoàn về miễn giảm hoặc chuyển đổi thực hiện cam kết công việc trong trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc bất khả kháng.
Cùng với đó, đề nghị làm rõ vai trò kiểm tra, giám sát, kiểm soát, bảo đảm chặt chẽ, hiệu quả đối với các nội dung phân quyền, giao quyền, bảo đảm quản lý chặt chẽ tài nguyên quốc gia.
Thứ tư, về ưu đãi trong hoạt động dầu khí và chính sách khai thác tài nguyên đối với mỏ, cụm mỏ, lô dầu khí khai thác tận thu. Ủy ban Kinh tế và Tài chính tán thành chủ trương Thủ tướng Chính phủ quyết định ưu đãi cao hơn về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất dầu thô và mức thu hồi chi phí tối đa theo Kết luận số 101 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư và bảo đảm an ninh năng lượng.
Tuy nhiên, cần bổ sung thông tin thực tiễn về các lô, mỏ thuộc diện áp dụng, quy định rõ tiêu chí, đối tượng và điều kiện thực hiện. Đồng thời, cần thuyết minh căn cứ lựa chọn mức ưu đãi đối với nâng cao hệ số thu hồi dầu khí; hoàn thiện điểm c khoản 1 Điều 45 bảo đảm thống nhất với Báo cáo số 411 của Chính phủ và Quỹ bảo đảm nghĩa vụ dọn dẹp công trình chỉ sử dụng để chi trả chi phí dọn dẹp công trình.
Thứ năm, về hợp đồng dầu khí, đề nghị hoàn thiện các nội dung sửa đổi, bổ sung quy định về hợp đồng dầu khí, bảo đảm rõ ràng, mạch lạc; làm rõ các trường hợp thay đổi nội dung của hợp đồng dẫn đến điều chỉnh hợp đồng và trường hợp không phải điều chỉnh hợp đồng (không thuộc thẩm quyền phê duyệt của cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí).
Thứ sáu, về xử lý các chi phí của Tập đoàn. Ủy ban Kinh tế và Tài chính tán thành về nguyên tắc phải có cơ chế xử lý chi phí cho Tập đoàn đối với nghĩa vụ nhà nước do Tập đoàn thực hiện thay. Các đề xuất tại dự thảo Luật là nội dung rất quan trọng, liên quan đến nghĩa vụ của nước chủ nhà, tác động đến dự toán, quyết toán ngân sách nhà nước. Đề nghị Chính phủ báo cáo đầy đủ, rõ ràng cơ sở thực tiễn, tính hợp lý của việc đề xuất bổ sung chính sách, tác động tới ngân sách nhà nước (nếu có).
Thứ bảy, về cơ chế, chính sách ưu đãi đột phá hơn, đề nghị Chính phủ tiếp tục nghiên cứu có các cơ chế, chính sách mới, đột phá trong quá trình thể chế hóa Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Ủy ban Kinh tế và Tài chính cũng đề nghị cơ quan soạn thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật để tạo khung khổ pháp lý đầy đủ, đồng bộ, có tính kết nối giữa các hoạt động trên biển để phát triển một cách tổng thể, thu hút đầu tư quy mô lớn, đa hoạt động, đa mục tiêu, không chỉ giới hạn trong các hoạt động dầu khí truyền thống mà còn mở ra các dạng thức khác khai thác hiệu quả tối đa kinh tế biển.