Doanh nghiệp, hợp tác xã “lột xác” nhờ công nghệ và liên kết
Trên những triền núi đá, nơi điều kiện sản xuất còn nhiều khó khăn, sản xuất nông nghiệp ở Cao Bằng từng gắn với hình ảnh nhỏ lẻ, phân tán, phụ thuộc mùa vụ. Trong bối cảnh đó, không ít hợp tác xã và doanh nghiệp địa phương loay hoay với bài toán đầu ra, giá trị sản phẩm thấp, thiếu vốn và công nghệ.
Công ty TNHH sản xuất và thương mại Phan Hoàng là một trường hợp tiêu biểu. Khởi đầu từ quy mô nhỏ, sản phẩm chủ yếu tiêu thụ thô, doanh nghiệp từng phải tự xoay xở tìm thị trường trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, bà Phạm Thị Chính, Giám đốc Công ty TNHH sản xuất và thương mại Phan Hoàng cho hay, bước ngoặt đến khi doanh nghiệp quyết định thay đổi tư duy phát triển. “Nếu không đổi mới, chúng tôi sẽ không thể tồn tại chứ chưa nói đến phát triển”, bà Chính chia sẻ.
Miến Dong Phan Hoàng đạt giấy chứng nhận OCOP 3 sao. Ảnh: Phan Hoàng
Cũng từ đó, doanh nghiệp từng bước đầu tư máy móc, dây chuyền chế biến, nâng cấp quy trình sản xuất các sản phẩm đặc trưng như lạp sườn, thịt hun khói, thạch đen. Không dừng lại ở sản xuất, doanh nghiệp chủ động xây dựng chuỗi liên kết với người dân để đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định, đồng thời chú trọng thiết kế bao bì, xây dựng thương hiệu.
Nhờ sự thay đổi đồng bộ, nhiều sản phẩm của doanh nghiệp đã đạt chuẩn OCOP 3 sao, từng bước khẳng định vị thế trên thị trường. Quan trọng hơn, doanh nghiệp đã tạo việc làm ổn định cho lao động địa phương và góp phần tiêu thụ nông sản tại chỗ.
Nếu câu chuyện của Phan Hoàng phản ánh nỗ lực của một doanh nghiệp, thì Hợp tác xã Nà Pò lại cho thấy bức tranh chuyển mình của kinh tế hợp tác vùng biên. Trước đây, với hơn 86 ha cây sương sáo, hoạt động của hợp tác xã chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống. Cây trồng phân tán trên nương, năng suất không ổn định, khâu sơ chế thủ công, sản phẩm bán ra chủ yếu là nguyên liệu thô. Những hạn chế này khiến giá trị sản phẩm thấp, thu nhập của người dân không ổn định.
Tuy nhiên, khi bắt đầu ứng dụng khoa học kỹ thuật, hợp tác xã đã có những thay đổi căn bản. Từ khâu chọn giống, cải tạo đất đến quy trình canh tác đều được chuẩn hóa. Máy móc được đưa vào sản xuất giúp nâng cao năng suất, giảm chi phí.
Sau thu hoạch, nguyên liệu được xử lý theo quy trình đồng bộ từ rửa, phơi, sấy đến bảo quản, đảm bảo chất lượng đầu vào cho chế biến. Đáng chú ý, hợp tác xã không dừng lại ở sản xuất nguyên liệu mà tiến tới làm chủ công nghệ chế biến sâu. Từ cây sương sáo, hàng loạt sản phẩm mới ra đời như nước cốt thạch đen, thạch đóng gói, bột thạch, đồ uống giải khát…
Việc xây dựng cơ sở chế biến ngay tại địa phương không chỉ giúp nâng cao giá trị gia tăng mà còn mở ra hướng phát triển mới gắn với du lịch trải nghiệm, quảng bá đặc sản vùng miền.
Một điểm chung dễ nhận thấy ở các hợp tác xã, doanh nghiệp tại Cao Bằng là sự thay đổi trong cách tiếp cận thị trường. Nếu trước đây phụ thuộc chủ yếu vào thương lái, thì nay các đơn vị đã chủ động tìm kiếm kênh tiêu thụ mới. Sản phẩm được đưa lên các nền tảng thương mại điện tử và mạng xã hội như: Shopee, TikTok, Facebook.
Cùng với đó, việc tham gia các hội chợ, chương trình xúc tiến thương mại, kết nối cung - cầu đã giúp sản phẩm vùng cao tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng. Nhờ đa dạng hóa kênh phân phối, nhiều sản phẩm không chỉ tiêu thụ trong tỉnh mà đã có mặt tại các đô thị lớn, từng bước xây dựng thương hiệu trên thị trường trong nước. Đây cũng là nền tảng quan trọng để các hợp tác xã hướng tới những thị trường khó tính hơn trong tương lai.
Liên minh hợp tác xã “tiếp sức”, tạo nền tảng phát triển
Sự chuyển mình của khu vực kinh tế hợp tác không thể tách rời vai trò của hệ thống hỗ trợ, trong đó có Liên minh hợp tác xã tỉnh. Trong nhiệm kỳ 2020 - 2025, khu vực kinh tế tập thể tại Cao Bằng đã có bước phát triển đáng ghi nhận. Toàn tỉnh thành lập mới 156 hợp tác xã, nâng tổng số lên 462, tăng 29% so với đầu nhiệm kỳ. Doanh thu bình quân đạt khoảng 2,2 tỷ đồng/HTX/năm, tăng 65%.
Liên minh hợp tác xã tỉnh đã phối hợp với các sở, ngành tổ chức hàng trăm hội nghị tuyên truyền, đào tạo, nâng cao nhận thức cho người dân và cán bộ hợp tác xã. Đồng thời, hỗ trợ thành lập hợp tác xã mới, thúc đẩy liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Thông qua các chương trình như hỗ trợ phát triển sản xuất, xúc tiến thương mại, kết nối thị trường, nhiều hợp tác xã đã từng bước nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả hoạt động.
Chia sẻ tại Đại hội Liên minh hợp tác xã tỉnh Cao Bằng lần VII, nhiệm kỳ 2025 - 2030 tổ chức ngày 31/3, ông Vương Quang Thiên, Phó Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Cao Bằng cho biết, khu vực kinh tế tập thể ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội địa phương, không chỉ tạo việc làm mà còn góp phần ổn định đời sống người dân, đặc biệt ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Ông Lê Hồng Quang, Phó Bí thư Tỉnh uỷ Cao Bằng đánh giá, dù quy mô còn khiêm tốn, nhưng các hợp tác xã đã có tăng trưởng tích cực về doanh thu, lợi nhuận, đồng thời từng bước tham gia chuỗi giá trị, phát triển sản phẩm OCOP.
Một điểm đáng chú ý là nhiều hợp tác xã tại các địa phương như Quảng Uyên, Trùng Khánh, Hòa An đã xây dựng được mã số vùng trồng - điều kiện quan trọng để tham gia xuất khẩu chính ngạch. Các sản phẩm đặc trưng như thạch đen, miến dong, hạt dẻ, gạo nếp, chè… đang từng bước nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Hướng tới chuỗi giá trị và xuất khẩu bền vững
Trong giai đoạn 2025 - 2030, định hướng phát triển kinh tế hợp tác của tỉnh là chuyển mạnh từ số lượng sang chất lượng, lấy hiệu quả làm thước đo. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ hợp tác xã hoạt động hiệu quả lên trên 65%, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số.
Ông Lê Hồng Quang, Phó Bí thư Tỉnh uỷ Cao Bằng tham quan gian hàng trưng bày tại Đại hội Liên minh Hợp tác xã tỉnh Cao Bằng. Ảnh: Phương Hà
Đặc biệt, tỉnh chú trọng phát triển các mô hình hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đồng thời tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường trong và ngoài nước.
Đưa ra định hướng cho khu vực kinh tế tập thể tại tỉnh Cao Bằng, bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, nhấn mạnh, các hợp tác xã cần tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, minh bạch quy trình sản xuất, ứng dụng truy xuất nguồn gốc và thương mại điện tử, từ đó từng bước tiếp cận thị trường xuất khẩu. Cùng với đó là yêu cầu đẩy mạnh liên kết, khuyến khích các hợp tác xã quy mô nhỏ hợp nhất hoặc liên kết để nâng cao năng lực cạnh tranh, hình thành các chuỗi sản xuất đủ lớn.
Ngoài ra, việc gắn phát triển hợp tác xã với du lịch sinh thái, kinh tế cửa khẩu và phát huy lợi thế của Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng cũng được xem là hướng đi tiềm năng.
Các chuyên gia nhận định, kinh tế tập thể tại Cao Bằng đang chuyển từ sản xuất truyền thống sang sản xuất hàng hóa, từ đơn lẻ sang liên kết, từ thị trường địa phương sang mở rộng toàn quốc và hướng tới xuất khẩu. Sự chuyển mình này không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, giữ chân lao động tại địa phương và ổn định xã hội vùng biên. Quan trọng hơn, đây là nền tảng để nông sản vùng cao từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, khẳng định thương hiệu trên thị trường và hướng tới phát triển bền vững trong dài hạn.
Đại hội Liên minh hợp tác xã tỉnh Cao Bằng lần thứ VII, nhiệm kỳ 2025 - 2030 đã bầu Ban Chấp hành khóa VII gồm 31 đồng chí; đồng thời kiện toàn Ban Thường vụ, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và Ban Kiểm tra theo quy định. Đồng chí Trần Anh Dũng tiếp tục được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch nhiệm kỳ 2025 - 2030. Đại hội cũng bầu 6 đại biểu tham dự Đại hội Liên minh HTX Việt Nam toàn quốc lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026 - 2031.