Đóng

Chống hàng giả: Nhận diện thủ đoạn mới, chủ động bảo vệ thương hiệu

Hàng giả trên môi trường số ngày càng tinh vi, đòi hỏi doanh nghiệp chủ động nhận diện thủ đoạn, phòng ngừa rủi ro để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thương hiệu.

Hàng giả, hàng nhái đang trở thành mối lo ngại đối với người tiêu dùng, đặc biệt trong bối cảnh hoạt động mua bán trên các nền tảng số ngày càng phổ biến. Các thủ đoạn giả mạo nhãn hiệu, cung cấp thông tin sai lệch về chất lượng, nguồn gốc sản phẩm và lợi dụng uy tín người nổi tiếng để quảng bá hàng hóa khiến người mua khó phân biệt thật, giả. Bên cạnh nguy cơ thiệt hại về kinh tế, sức khỏe, tình trạng này còn ảnh hưởng đến quyền được cung cấp thông tin chính xác, quyền lựa chọn hàng hóa và niềm tin của người tiêu dùng đối với thương hiệu Việt.

Xoay quanh vấn đề này, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Đức Tài - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chống hàng giả và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam, Giám đốc Trung tâm Giám sát chất lượng và Phòng chống hàng giả.

TS. Nguyễn Đức Tài - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chống hàng giả và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam, Giám đốc Trung tâm Giám sát chất lượng và Phòng chống hàng giả.

Nhận diện thủ đoạn

- Thưa ông, hàng giả, hàng nhái ngày càng xuất hiện dưới nhiều hình thức, gây thiệt hại cho doanh nghiệp và ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng. Từ thực tiễn công tác phòng, chống hàng giả, ông nhận diện những thủ đoạn phổ biến hiện nay như thế nào? Tình trạng này tác động ra sao đến niềm tin của người tiêu dùng đối với hàng Việt Nam?

TS. Nguyễn Đức Tài: Trong công tác phòng, chống hàng giả và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hiện nay, cần nhìn nhận ở 3 khía cạnh: Giả sản phẩm; giả thông tin quảng bá sản phẩm và tạo dựng niềm tin giả đối với người tiêu dùng.

Về giả sản phẩm, các đối tượng kinh doanh có thể vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, làm giả hoặc bắt chước bao bì, nhãn hiệu của những sản phẩm đã có uy tín trên thị trường.

Về giả thông tin, các đối tượng có thể đưa ra những thông tin sai lệch về nguồn gốc, xuất xứ và chất lượng sản phẩm.

Ví dụ, đối với những sản phẩm bảo vệ sức khỏe như sâm, doanh nghiệp công bố hàm lượng saponin trong sản phẩm là bao nhiêu, chiếm tỷ lệ bao nhiêu phần trăm. Tuy nhiên, khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng, họ gần như không có điều kiện kiểm chứng những thông tin này. Muốn đánh giá chính xác chất lượng và hàm lượng các hoạt chất trong sản phẩm thì phải thông qua các đơn vị có chức năng kiểm nghiệm hoặc các cơ sở chuyên môn. Trong khi đó, phần lớn người tiêu dùng chỉ có thể căn cứ vào thông tin trên bao bì để lựa chọn và sử dụng. Vấn đề đặt ra là chất lượng thực tế của sản phẩm có đúng với những gì doanh nghiệp đã công bố hay không?

Khía cạnh thứ ba là tạo dựng niềm tin giả. Các đối tượng có thể lợi dụng hình ảnh, uy tín của chuyên gia, KOL, KOC hoặc những người nổi tiếng để quảng bá sản phẩm, khiến người tiêu dùng tin tưởng và quyết định mua hàng khi chưa có điều kiện kiểm chứng chất lượng thực tế.

3 khía cạnh này gây ra những hậu quả rất lớn. Trước hết, người tiêu dùng là đối tượng chịu thiệt hại trực tiếp. Tiếp đó, các doanh nghiệp kinh doanh chân chính, minh bạch phải đối mặt với môi trường cạnh tranh bất công. Họ tập trung sản xuất, kinh doanh sản phẩm và thu lợi nhuận trên cơ sở giá trị thực tế của hàng hóa. Trong khi đó, những đối tượng cố tình làm giả có thể đẩy giá trị sản phẩm lên rất cao, dành nguồn chi phí lớn cho các khâu trung gian và hệ thống bán hàng nhằm quảng bá, tiêu thụ sản phẩm.

Khi người tiêu dùng tiếp nhận những thông tin sai lệch, đặc biệt thông qua hình ảnh và lời giới thiệu của những người có uy tín, họ có thể đưa ra quyết định mua hàng mà chưa kiểm tra được chất lượng thực tế của sản phẩm.

Điều này khiến các doanh nghiệp kinh doanh chân chính, minh bạch phải chịu cạnh tranh bất công, các thương hiệu cũng chịu tổn thất về uy tín khi sản phẩm bị làm giả hoặc bị lợi dụng hình ảnh để kinh doanh.

Điều đáng lo ngại hơn là khi một sản phẩm giả mang thương hiệu Việt Nam xuất hiện trên thị trường, người tiêu dùng có thể giảm lòng tin, thậm chí mất niềm tin đối với hàng Việt Nam.

Lực lượng Quản lý thị trường TP. Hà Nội kiểm tra, thu giữ hàng loạt hàng hóa giả mạo, không rõ nguồn gốc. 

Minh bạch thông tin sản phẩm, giữ uy tín thương hiệu

- Thưa ông, trên môi trường thương mại điện tử, các đối tượng kinh doanh hàng giả còn sử dụng công nghệ, hình ảnh người nổi tiếng và những lượt tương tác để thu hút khách hàng. Ông đánh giá thế nào về mức độ tinh vi của những thủ đoạn này? Doanh nghiệp Việt Nam cần làm gì để bảo vệ thương hiệu và củng cố niềm tin của người tiêu dùng?

TS. Nguyễn Đức Tài: Mức độ tinh vi của hàng giả hiện nay thể hiện ở cả sản phẩm và phương thức tiếp cận người tiêu dùng. Trên môi trường số, cùng với sự phát triển của thương mại điện tử và các nền tảng bán hàng trực tuyến, các đối tượng có thể tạo dựng những câu chuyện về thương hiệu, sử dụng hình ảnh chuyên gia, KOL, KOC để thu hút khách hàng, tạo niềm tin và thúc đẩy quyết định mua hàng.

Thủ đoạn tinh vi còn thể hiện ở việc sử dụng công nghệ để tạo ra những lượt tương tác giả, tăng lượt thích, lượt truy cập nhằm khiến người tiêu dùng có cảm giác sản phẩm được nhiều người quan tâm và đáng tin cậy. Thông qua những hình thức này, người tiêu dùng có thể bị tác động, thậm chí bị thao túng về tâm lý, dẫn đến quyết định chốt đơn hàng rất nhanh.

Như tôi đã đề cập, khi người tiêu dùng mua phải hàng giả mang thương hiệu Việt Nam họ có thể mất niềm tin vào sản phẩm, thậm chí nghi ngờ cả những sản phẩm Việt Nam cùng loại. Trong khi đó, các doanh nghiệp kinh doanh chân chính, minh bạch cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp. Họ vừa bị mất doanh thu, vừa phải bỏ thêm chi phí để giải thích, khôi phục hình ảnh và uy tín thương hiệu.

Trong công tác phòng, chống hàng giả, tôi cho rằng, phòng ngừa luôn quan trọng hơn việc xử lý khi hành vi vi phạm đã xảy ra. Chúng ta cần chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa, ứng dụng công nghệ và đẩy mạnh tuyên truyền để người tiêu dùng trở thành những người mua sắm thông minh, có kiến thức và hiểu biết về công nghệ.

Về phía doanh nghiệp, việc kinh doanh minh bạch, chính trực và chủ động bảo vệ hình ảnh, thương hiệu trên môi trường số có ý nghĩa rất quan trọng. Bởi lẽ, dữ liệu khách hàng và niềm tin của người tiêu dùng chính là tài sản của doanh nghiệp. Doanh nghiệp Việt Nam muốn phát triển bền vững thì trước hết phải bảo đảm chất lượng sản phẩm, minh bạch thông tin và giải quyết thỏa đáng những phản ánh, khiếu nại của khách hàng nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng.

Có như vậy, doanh nghiệp mới củng cố được niềm tin của khách hàng và người tiêu dùng mới tiếp tục tin tưởng, ưu tiên lựa chọn hàng Việt Nam.

Kết nối nguồn lực, nâng cao hiệu quả phòng, chống hàng giả

- Công tác phòng, chống hàng giả và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đòi hỏi sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội nghề nghiệp. Hiệp hội Chống hàng giả và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam cần phát huy vai trò như thế nào để hỗ trợ doanh nghiệp bảo vệ thương hiệu, đồng thời nâng cao hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng trên môi trường số?

TS. Nguyễn Đức Tài: Hiệp hội Chống hàng giả và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam là tổ chức xã hội nghề nghiệp, có các viện, trung tâm và đơn vị thành viên hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Thông qua hoạt động tư vấn, hướng dẫn, đào tạo, cung cấp dịch vụ khoa học và công nghệ, tuyên truyền và phản biện xã hội, Hiệp hội đang phát huy vai trò hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác phòng, chống hàng giả, gian lận thương mại, bảo vệ thương hiệu và quyền lợi người tiêu dùng.

Với vai trò là tổ chức xã hội nghề nghiệp, Hiệp hội chú trọng phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước, lực lượng chức năng, đặc biệt là Ban Chỉ đạo 389 và các lực lượng chức năng tại địa phương. Hoạt động của Hiệp hội tập trung vào 3 nội dung chính.

Thứ nhất, tăng cường tiếp nhận, tổng hợp thông tin phản ánh của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Hiệp hội và các đơn vị thành viên tập trung nắm bắt những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, tiếp nhận thông tin phản ánh của người tiêu dùng, nhất là những dấu hiệu liên quan đến hàng giả, gian lận thương mại và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Trên cơ sở đó, Hiệp hội tổng hợp, chuyển thông tin đến các cơ quan quản lý có thẩm quyền như Sở Công Thương, lực lượng quản lý thị trường và các cơ quan chức năng tại địa phương để xem xét, xác minh và xử lý theo thẩm quyền. Qua đó, góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và hỗ trợ doanh nghiệp bảo vệ thương hiệu Việt Nam.

Thứ hai, đẩy mạnh kết nối chuyên gia, doanh nghiệp công nghệ và các tổ chức khoa học và công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa hàng giả từ sớm, từ xa. Hiệp hội phát huy vai trò kết nối các chuyên gia, viện nghiên cứu, trung tâm khoa học và công nghệ cùng doanh nghiệp trong việc ứng dụng công nghệ, minh bạch thông tin sản phẩm và bảo vệ thương hiệu. Trong đó, Hiệp hội chú trọng hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng quy trình tiếp nhận, xử lý phản ánh và khiếu nại của khách hàng, nhất là trong hoạt động kinh doanh trên môi trường số.

Thực tế hiện nay, có những doanh nghiệp, hộ kinh doanh bán hàng trực tuyến nhưng người mua không được mở hàng để kiểm tra. Khi nhận phải sản phẩm bị lỗi hoặc kém chất lượng, người tiêu dùng lại không có kênh liên hệ để phản ánh, yêu cầu giải quyết. Tình trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và niềm tin của khách hàng. Vì vậy, một nội dung được Hiệp hội quan tâm là thúc đẩy doanh nghiệp xây dựng các kênh tương tác hai chiều, tiếp nhận và giải quyết thỏa đáng những phản ánh, khiếu nại của người tiêu dùng.

Thứ ba, tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn và phối hợp trao đổi thông tin với các cơ quan quản lý nhà nước. Hiệp hội Chống hàng giả và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam cùng Hội Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam và các hiệp hội hoạt động trong lĩnh vực này chú trọng các chương trình tư vấn, hướng dẫn và tuyên truyền, góp phần thực hiện hiệu quả Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam". Nội dung tuyên truyền tập trung vào việc nâng cao nhận thức, giúp doanh nghiệp và người tiêu dùng nhận diện những dấu hiệu vi phạm trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt trên môi trường số.

Song song với đó, Hiệp hội tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc tiếp nhận, phân loại và chuyển thông tin phản ánh liên quan đến những doanh nghiệp, hộ kinh doanh có dấu hiệu vi phạm. Quá trình phối hợp gắn với yêu cầu bảo mật thông tin và theo dõi kết quả xử lý.

Hiệu quả phối hợp giữa Hiệp hội, cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng cần được đánh giá qua kết quả tiếp nhận, giải quyết phản ánh và xử lý những vấn đề phát sinh trong thực tiễn. Qua đó, Hiệp hội tiếp tục phát huy vai trò kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp phòng, chống hàng giả, bảo vệ thương hiệu Việt Nam và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng.

Xin cảm ơn ông!

Thái Mạnh - Nguyên Thảo