Đóng

Chuyên gia nêu 6 giải pháp cho vật liệu xây dựng giai đoạn mới

Từ hoàn thiện thể chế đến công nghệ, dữ liệu và thị trường, 6 giải pháp được kỳ vọng tạo chuyển biến mạnh, đưa ngành vật liệu xây dựng sang mô hình xanh, hiện đại.

Khuyến khích vật liệu xanh, vật liệu thông minh

Ngành vật liệu xây dựng từ lâu được xem là “xương sống” của nền kinh tế khi cung cấp đầu vào thiết yếu cho hạ tầng, đô thị, nhà ở và hàng loạt lĩnh vực sản xuất, dịch vụ. Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững, việc hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực quản lý và định hướng phát triển ngành vật liệu xây dựng trở thành nhiệm vụ cấp thiết.

Tại Hội thảo "Vật liệu xây dựng xanh, xu thế phát triển bền vững" diễn ra chiều 5/5, ông Lê Văn Kế, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) cho biết, vật liệu xây dựng không chỉ phục vụ trực tiếp hoạt động xây dựng mà còn gắn chặt với khai thác tài nguyên, tiêu thụ năng lượng, bảo vệ môi trường và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong cơ cấu đầu tư xây dựng, chi phí vật liệu thường chiếm tới 55–65% tổng giá trị công trình. Điều này đồng nghĩa với việc mọi biến động về giá cả, nguồn cung hay chất lượng vật liệu đều tác động trực tiếp đến chi phí đầu tư, tiến độ và tuổi thọ công trình.

Trong đó, theo ông Lê Văn Kế, chiến lược phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, định hướng đến năm 2050 đã xác định rõ quan điểm phát triển ngành theo hướng hiệu quả, bền vững; đáp ứng cơ bản nhu cầu trong nước; từng bước tăng xuất khẩu; tiếp cận và ứng dụng nhanh thành tựu khoa học, công nghệ; sử dụng hiệu quả tài nguyên, nhiên liệu và năng lượng; hạn chế tối đa ảnh hưởng tới môi trường; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, phát triển ngành.

Ông Lê Văn Kế, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng). Ảnh: P.C

Chiến lược cũng đặt ra mục tiêu cụ thể cho từng nhóm vật liệu chủ yếu như xi măng, gạch ốp lát, đá ốp lát, sứ vệ sinh, kính xây dựng, vôi công nghiệp, gạch đất sét nung, vật liệu xây không nung, cát xây dựng, đá xây dựng, bê tông... theo hướng công nghệ hiện đại hơn, tiêu hao ít hơn, phát thải thấp hơn, chất lượng cao hơn.

Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 03/02/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, phát triển vật liệu xây dựng trong giai đoạn mới là văn bản có ý nghĩa chỉ đạo trực tiếp đối với toàn ngành. Chỉ thị đã xác định yêu cầu phải rà soát, hoàn thiện hệ thống quy hoạch, chiến lược và pháp luật về quản lý, phát triển vật liệu xây dựng; xây dựng cơ chế, chính sách đủ mạnh để thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật; tăng cường kiểm định, kiểm tra, giám sát chất lượng; kiểm soát chặt ô nhiễm môi trường; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp, các ngành.

Đặc biệt, Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 đã hoàn thiện các quy định về quản lý, phát triển, sản xuất vật liệu xây dựng và sử dụng vật liệu xây dựng vào công trình xây dựng; đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung về quản lý, phát triển, sản xuất vật liệu xây dựng và sử dụng vật liệu xây dựng vào công trình xây dựng bảo đảm an toàn, hiệu quả, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, tiết kiệm năng lượng và tài nguyên.

Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để rà soát, cập nhật, thể chế hóa đồng bộ các yêu cầu mới về quản lý vật liệu xây dựng trong Nghị định thay thế Nghị định số 09/2021/NĐ-CP ngày 09/02/2021 của Chính phủ về quản lý vật liệu xây dựng” ông Lê Văn Kế cho hay.

Trong đó, khuyến khích vật liệu mới, vật liệu thông minh, vật liệu phát thải thấp, vật liệu phù hợp vùng ven biển, hải đảo. Đồng thời tăng cường quản lý chất lượng, sử dụng chất thải trong sản xuất vật liệu xây dựng và tổ chức thực hiện.

Đối với quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng, Thông tư số 10/2024/TT-BXD ngày 01/11/2024 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã tạo hành lang pháp lý quan trọng trong việc xác lập trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh; tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát, hậu kiểm và nâng cao nhận thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp…

Chuyển đổi xanh, giảm phát thải là hướng đi tất yếu

Trước yêu cầu phát triển mới, đại diện Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và Vật liệu xây dựng đề xuất việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, phát triển vật liệu xây dựng trong giai đoạn tới cần tập trung vào một số định hướng trọng tâm sau.

Một là, hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, thống nhất, ổn định, minh bạch và có tính dẫn dắt phát triển. Trong đó, cần làm rõ ranh giới giữa quản lý Nhà nước ở Trung ương và địa phương; giữa quản lý phát triển ngành và quản lý chất lượng hàng hóa; giữa quản lý chuyên ngành với quản lý môi trường, khoáng sản, hải quan, thương mại…

Ngành vật liệu xây dựng hướng tới mô hình hiện đại, xanh. Ảnh: Tuấn Vỹ

Hai là, đổi mới mô hình phát triển ngành theo hướng xanh, tuần hoàn, phát thải thấp và giá trị gia tăng cao. Ngành vật liệu xây dựng cần đẩy mạnh sử dụng nguyên nhiên liệu thay thế, tận dụng tro, xỉ, thạch cao nhân tạo... Giảm dần dây chuyền công nghệ lạc hậu, tiêu tốn tài nguyên, phát thải cao.

Ba là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo hướng tiệm cận thông lệ quốc tế và phù hợp thực tiễn Việt Nam. Tăng cường hậu kiểm trên cơ sở quản lý rủi ro; nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp, tổ chức đánh giá sự phù hợp và cơ quan quản lý nhà nước.

Bốn là, đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn ngành. Cần thúc đẩy đầu tư đổi mới dây chuyền sản xuất, làm chủ công nghệ, phát triển vật liệu mới… Đồng thời, cần phát triển hệ thống dữ liệu ngành, số hóa quản trị sản xuất, quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc, logistics, quan trắc môi trường và kết nối dữ liệu giữa cơ quan quản lý với doanh nghiệp.

Năm là, tăng cường hợp tác quốc tế phát triển thị trường vật liệu xây dựng trên cơ sở nâng cao nội lực, ổn định cung - cầu và tăng sức cạnh tranh quốc tế.

Sáu là, cần xây dựng cơ sở dữ liệu về sản xuất, công suất, sản lượng, tiêu thụ, xuất nhập khẩu, chất lượng sản phẩm, nguồn nguyên liệu, tiêu hao năng lượng, phát thải, sử dụng chất thải làm nguyên liệu và cung - cầu theo vùng.

Dữ liệu đầy đủ, kịp thời, chính xác sẽ là nền tảng để dự báo thị trường, điều phối nguồn cung, phục vụ xây dựng chính sách, cảnh báo mất cân đối cục bộ và nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng.

Từ nay đến năm 2030 và xa hơn là đến năm 2045, ngành vật liệu xây dựng phải chuyển mình từ một ngành sản xuất truyền thống sang một ngành sản xuất hiện đại, xanh, thông minh, có năng lực cạnh tranh cao, có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.

Để làm được điều đó, điều kiện tiên quyết là tiếp tục thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các chủ trương lớn của Đảng, chính sách của Nhà nước; đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, xây dựng môi trường pháp lý ổn định, minh bạch, thuận lợi cho doanh nghiệp nhưng vẫn siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong quản lý tài nguyên, môi trường, chất lượng và thị trường, sản phẩm.

Hoàn thiện chính sách pháp luật về vật liệu xây dựng là nhiệm vụ quan trọng để ngành phát triển bền vững và hội nhập quốc tế; tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và phục vụ hiệu quả hơn các mục tiêu chiến lược phát triển đất nước.

Phương Cúc