Đóng

Chuyển tư duy quản lý sang kiến tạo trong văn hóa công vụ

Chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo đang đặt ra yêu cầu mới đối với văn hóa công vụ, hướng tới nền hành chính chủ động, hỗ trợ, đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp.

Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, TS. Nguyễn Thị Quý Phương, Tiến sĩ nghiên cứu về khoa học thông tin và truyền thông, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Báo chí và Truyền thông, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, cho rằng điểm đáng chú ý trong quá trình xây dựng chính sách phát triển công nghiệp văn hóa, văn hóa công vụ không chỉ nằm ở những cơ chế mới, mà còn thể hiện sự chuyển biến trong tư duy quản lý nhà nước. Đó là từ “quản lý” sang “kiến tạo”, từ hành chính hóa sang hỗ trợ, bảo hộ và tạo điều kiện để các nguồn lực xã hội phát huy giá trị.

TS. Nguyễn Thị Quý Phương, Tiến sĩ nghiên cứu về khoa học thông tin và truyền thông, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Báo chí và Truyền thông, Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Ảnh: Thái Mạnh

Từ văn hóa quản lý sang văn hóa kiến tạo

- Thưa bà, từ thực tiễn xây dựng chính sách phát triển công nghiệp văn hóa, bà đánh giá thế nào về sự chuyển biến trong tư duy quản lý nhà nước hiện nay. Theo bà, sự thay đổi này đặt ra yêu cầu gì đối với văn hóa công vụ?

TS. Nguyễn Thị Quý Phương: Tôi cho rằng điều đáng chú ý nhất chính là sự chuyển đổi về tư duy, từ “quản lý” sang “kiến tạo”. Đây không chỉ là câu chuyện của riêng một chính sách hay một lĩnh vực, mà còn liên quan trực tiếp đến cách thức vận hành của bộ máy công vụ.

Nếu trước đây, tư duy quản lý thường nhấn mạnh đến việc đặt ra các quy định, kiểm soát và quản lý hoạt động, thì tư duy kiến tạo đòi hỏi cơ quan quản lý phải nhìn rộng hơn: Nhà nước cần tạo ra môi trường, cơ chế và hành lang thuận lợi để các chủ thể có thể phát huy năng lực của mình.

Trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa, điều này càng rõ nét. Đây là lĩnh vực có tính liên ngành, liên quan đến nhiều chủ thể và đặc biệt dựa nhiều vào nguồn lực trí tuệ, sáng tạo. Nếu chỉ tiếp cận bằng tư duy hành chính, chúng ta rất dễ vô tình tạo ra những rào cản đối với chính nguồn lực mà mình muốn phát triển.

Vì vậy, thay vì hành chính hóa các hoạt động sáng tạo, điều cần thiết là xây dựng một cơ chế hỗ trợ và bảo hộ cho sự phát triển. Tôi đánh giá đây là một tư duy rất tiến bộ, tiệm cận với tư duy phát triển hiện đại, nhất là trong lĩnh vực kinh tế sáng tạo.

Từ góc độ văn hóa công vụ, tôi nghĩ đây cũng là một sự thay đổi rất quan trọng. Một nền công vụ kiến tạo không có nghĩa là buông lỏng quản lý. Ngược lại, quản lý phải đi cùng với trách nhiệm tạo điều kiện, đồng hành và tháo gỡ những điểm nghẽn cho người dân, doanh nghiệp và các chủ thể xã hội.

Điều đó đòi hỏi cán bộ, công chức không chỉ thực hiện đúng quy định, mà còn phải có tinh thần phục vụ, chủ động tìm cách giải quyết vấn đề trong khuôn khổ pháp luật. Đây chính là yếu tố tạo nên một nền văn hóa công vụ hiện đại.

- Theo bà, một nền văn hóa công vụ kiến tạo cần được thể hiện như thế nào trong cách cơ quan quản lý ứng xử với người dân, doanh nghiệp và các chủ thể sáng tạo? Làm thế nào để tránh tình trạng hành chính hóa, đồng thời vẫn bảo đảm kỷ cương và hiệu quả quản lý?

TS. Nguyễn Thị Quý Phương: Tôi cho rằng có một số điểm rất đáng chú ý. Trước hết là cách tiếp cận rộng mở hơn đối với nguồn lực sáng tạo. Công nghiệp văn hóa khác với nhiều ngành công nghiệp khác ở chỗ nguồn vốn quan trọng nhất chính là vốn trí tuệ. Rất nhiều người có thể trở thành chủ thể tham gia, đóng góp và tạo ra giá trị.

Chính vì vậy, chính sách phải làm sao để khuyến khích được càng nhiều chủ thể tham gia càng tốt. Cơ chế thử nghiệm, chẳng hạn, nếu được thiết kế phù hợp sẽ tạo không gian để những mô hình mới có cơ hội được thử nghiệm, đánh giá và hoàn thiện.

Một điểm tôi đánh giá cao là cách tiếp cận đối với tài sản trí tuệ. Việc nghiên cứu cơ chế để tài sản trí tuệ có thể trở thành tài sản bảo đảm cho tín dụng là một bước đi có tính đột phá, bởi nó giúp chuyển hóa nguồn lực trí tuệ thành nguồn lực kinh tế.

Nhưng phía sau những cơ chế đó là một yêu cầu rất lớn đối với văn hóa công vụ: Cơ quan quản lý phải có khả năng đi cùng với cái mới.

Khi xuất hiện những mô hình mới, tài sản mới hay phương thức kinh doanh mới, nếu phản ứng đầu tiên của bộ máy là “chưa có quy định nên không làm được”, thì rất khó thúc đẩy đổi mới. Văn hóa kiến tạo đòi hỏi cách tiếp cận khác: Phải xác định vấn đề, tìm cơ sở pháp lý, nghiên cứu cơ chế phù hợp và trong trường hợp cần thiết thì hoàn thiện chính sách để đáp ứng yêu cầu phát triển. Đó là một sự thay đổi rất lớn trong tư duy thực thi công vụ.

Công vụ phải tạo không gian để sáng tạo phát triển

- Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa mở ra nhiều cơ chế mới, trong đó có việc trao thêm không gian để các chủ thể địa phương nhận diện, phát triển nguồn lực văn hóa và triển khai các hoạt động phù hợp với thực tiễn. Theo bà, điều này đòi hỏi chính quyền địa phương và đội ngũ cán bộ, công chức thay đổi như thế nào về tư duy, tinh thần trách nhiệm và cách thức thực thi công vụ?

TS. Nguyễn Thị Quý Phương: Tôi cho rằng đây là một điểm rất quan trọng. Một trong những điểm tiến bộ là dự thảo mở ra cơ chế tương đối rộng cho các chủ thể ở địa phương trong việc xây dựng quy hoạch, nhận diện tài sản công nghiệp văn hóa và phát triển những nguồn lực phù hợp với đặc thù của mình.

Nếu nhìn dưới góc độ văn hóa công vụ, điều này gắn với tinh thần chủ động, trách nhiệm và tự chủ của chính quyền địa phương. Khi đã xác định rõ nguyên tắc, trách nhiệm và giới hạn pháp lý, địa phương cần được trao không gian để chủ động triển khai, đồng thời phải chịu trách nhiệm về kết quả. Tôi nghĩ đó chính là văn hóa công vụ mà chúng ta đang hướng tới: Nhà nước kiến tạo, địa phương chủ động, cán bộ thực thi có trách nhiệm và người dân, doanh nghiệp được tạo điều kiện để tham gia.

Tất nhiên, để làm được điều đó thì chính sách cũng cần có những chỉ tiêu và định hướng đủ rõ. Tôi từng góp ý rằng nếu luật có thể thể hiện rõ hơn những mục tiêu phát triển, chẳng hạn các chỉ tiêu về đóng góp của công nghiệp văn hóa vào tăng trưởng, tỷ lệ chi ngân sách cho phát triển văn hóa và những mục tiêu cụ thể khác thì sẽ tạo thêm cơ sở để chính quyền địa phương mạnh dạn triển khai.

Khi mục tiêu đã rõ, nguồn lực được xác định và trách nhiệm được phân định, cán bộ sẽ có thêm cơ sở để hành động. Đó cũng là cách để hạn chế tâm lý sợ trách nhiệm, sợ sai và tâm lý chỉ làm những gì đã được quy định thật cụ thể.

Việc xây dựng văn hóa công vụ không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước mà còn tạo môi trường hành chính minh bạch, chuyên nghiệp và thân thiện. Ảnh: Thái Mạnh.

- Theo bà, làm thế nào để xây dựng một nền văn hóa công vụ vừa đúng pháp luật, rõ trách nhiệm, vừa chủ động, linh hoạt và đồng hành cùng sự phát triển?

TS. Nguyễn Thị Quý Phương: Tôi nghĩ cần phân biệt rất rõ giữa việc không hành chính hóa với việc thiếu quy định. Chẳng hạn, dự thảo đã đưa ra ý tưởng về sàn giao dịch công nghiệp văn hóa. Đây là một tín hiệu cho thấy chúng ta đang đi đúng hướng. Nhưng nếu chỉ dừng ở việc đưa ý tưởng vào luật rồi giao Chính phủ quy định tiếp thì cần phải xem xét rất nghiêm túc. Những nội dung thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý chuyên ngành thì cần được nghiên cứu, quy định đủ rõ để khi luật đi vào cuộc sống, các chủ thể có thể thực hiện được.

Cần xác định rõ sàn hoạt động như thế nào, chủ thể tham gia là ai, tiêu chí đối với chủ thể ra sao, cơ chế giao dịch, ký quỹ, chứng minh năng lực và tái đầu tư như thế nào. Bởi ở đây liên quan đến tài sản trí tuệ, quyền khai thác tài sản trí tuệ và quyền lợi của nhiều bên.

Nhưng quy định rõ không có nghĩa là tạo thêm thủ tục để kiểm soát. Điều quan trọng là quy định phải nhằm tạo lập một trật tự minh bạch để thị trường vận hành, bảo vệ quyền lợi của các bên và khuyến khích sáng tạo.

Đây cũng chính là chỗ mà văn hóa công vụ cần được thể hiện. Cán bộ làm chính sách phải hiểu rằng mục tiêu cuối cùng của quy định không phải là tạo thêm một lớp quản lý, mà là giúp hoạt động thực tế vận hành tốt hơn.

Tôi cho rằng đây là yêu cầu rất quan trọng trong quá trình chuyển từ “quản lý” sang “kiến tạo”. Kiến tạo không phải là Nhà nước đứng ngoài, mà là Nhà nước đứng đúng vị trí để hỗ trợ thị trường, bảo vệ quyền lợi chính đáng và mở đường cho các nguồn lực phát triển.

Đặc biệt, với một lĩnh vực còn mới, chúng ta cần chấp nhận quá trình vừa làm, vừa đánh giá và vừa hoàn thiện. Không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia trên thế giới cũng còn lúng túng khi xây dựng cơ chế cho những lĩnh vực mới như kinh tế sáng tạo. Vì vậy, điều quan trọng là xác định đúng hướng đi, sau đó liên tục điều chỉnh chính sách từ thực tiễn.

Tôi kỳ vọng tinh thần đó sẽ tiếp tục được thể hiện rõ hơn trong quá trình hoàn thiện luật và tổ chức thực hiện. Khi nguồn lực sáng tạo được giải phóng, khi người dân và doanh nghiệp cảm nhận được sự đồng hành của cơ quan công quyền, khi cán bộ thực thi có tinh thần trách nhiệm và chủ động giải quyết vấn đề, lúc đó văn hóa công vụ mới thực sự trở thành một động lực phát triển.

Suy cho cùng, mục tiêu của chính sách không chỉ là quản lý một lĩnh vực, mà là tạo ra một môi trường để các nguồn lực xã hội được phát huy. Với công nghiệp văn hóa, đó chính là cách biến nguồn lực sáng tạo thành nguồn lực phát triển kinh tế và đóng góp cho sự phát triển đất nước.

- Trân trọng cảm ơn bà !

Việc xây dựng văn hóa công vụ không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước mà còn tạo môi trường hành chính minh bạch, chuyên nghiệp và thân thiện. Đây là nền tảng quan trọng để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng.

Nguyễn Hương - Thái Mạnh