Dư địa lớn từ nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu và thực phẩm chế biến
Các chuyên gia nhận định Thổ Nhĩ Kỳ đang mở ra dư địa lớn cho nông sản, thủy sản và thực phẩm chế biến Việt Nam, nếu doanh nghiệp trong nước chọn đúng mặt hàng, đúng kênh phân phối và kiểm soát tốt rủi ro tài chính.
Các chuyên gia chia sẻ tại Hội thảo "Cơ hội và thách thức phát triển thị trường Thổ Nhĩ Kỳ"
Chia sẻ tại Hội thảo "Cơ hội và thách thức phát triển thị trường Thổ Nhĩ Kỳ" diễn ra vào chiều 21/7, PGS.TS Đinh Công Hoàng, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, cho biết Thổ Nhĩ Kỳ là thành viên Liên minh Hải quan với EU nên hàng hóa nhập khẩu vào nước này có thể lưu thông tiếp sang thị trường châu Âu mà không chịu thêm rào cản thuế quan kép. Quốc gia này còn sở hữu hạ tầng logistics lớn với eo biển Bosphorus, sân bay Istanbul và mạng lưới gần 40 hiệp định thương mại tự do (FTA), tạo lợi thế tái xuất khẩu cho nông sản, thực phẩm chế biến nhập từ Việt Nam. Về quy mô, GDP Thổ Nhĩ Kỳ đã vượt 1.100 tỷ USD, dân số khoảng 86 triệu người với tầng lớp trung lưu mở rộng nhanh, trong khi lạm phát đến giữa năm 2026 đã được kiểm soát tốt hơn, giúp kích cầu tiêu dùng nội địa.
Bà Nguyễn Việt Hằng, Tham tán Thương mại, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ, cho biết năm 2025 Thổ Nhĩ Kỳ nhập khẩu 26,3 tỷ USD hàng thực phẩm - đồ uống, tăng 18,76% so với năm 2024 (22,15 tỷ USD), trong khi xuất khẩu nhóm hàng này gần như đi ngang, đạt 31,73 tỷ USD, giảm nhẹ 0,03%. Riêng từ đầu năm 2026 đến thời điểm hội thảo, nước này đã xuất khẩu 13,23 tỷ USD và nhập khẩu 12,63 tỷ USD hàng thực phẩm, đồ uống.
Theo bà Hằng, 5 nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất - thức ăn chăn nuôi (khoảng 6,1 tỷ USD), dầu thực vật (khoảng 3,7 tỷ USD), đường và sản phẩm ca cao (khoảng 2,4 tỷ USD), các loại hạt cứng (khoảng 1,5 tỷ USD), cà phê, trà, gia vị (khoảng 1,3 tỷ USD) đã chiếm hơn một nửa tổng kim ngạch, cho thấy trọng tâm nhập khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ xoay quanh nguyên liệu thô và bán thành phẩm chưa qua tinh chế.
Bà Hằng cũng lưu ý hành vi tiêu dùng tại Thổ Nhĩ Kỳ đang dịch chuyển rõ nét trên 5 khía cạnh: Từ trung thành thương hiệu sang theo dõi sát giá cả, hiệu năng và khuyến mãi; từ ưu tiên hàng nhập khẩu cao cấp sang ưu tiên hàng nội địa giá phải chăng như sữa, đồ uống, snack; từ thói quen nấu ăn truyền thống sang nhu cầu thực phẩm chế biến sẵn, phù hợp hộ gia đình có 2 người đi làm; và từ tiêu dùng đại trà sang ưu tiên sản phẩm tự nhiên, không phụ gia, bao bì bền vững.
PGS.TS Đinh Công Hoàng bổ sung, thế hệ Millennial và Gen Z - chiếm tỷ trọng dân số lớn tại Thổ Nhĩ Kỳ đặc biệt quan tâm yếu tố phát thải carbon thấp, bao bì tái chế; sản phẩm đạt chứng nhận Organic, GlobalGAP, FairTrade có thể được định giá cao hơn 20 - 40% so với sản phẩm thông thường, trong khi nhu cầu thực phẩm ít đường, ít chất béo, giàu protein và có nguồn gốc thực vật cũng đang tăng vọt tại các thành phố lớn như Istanbul, Ankara.
Các doanh nghiệp tham gia trưng bày, giới thiệu sản phẩm tại hội thảo
Ở góc độ ngành hàng, PGS.TS Đinh Công Hoàng chỉ ra Thổ Nhĩ Kỳ tuy có sản lượng nông nghiệp năm 2025 đạt kỷ lục 83,2 tỷ USD, đứng đầu châu Âu, mạnh về lúa mì, dầu ô liu, hạt phỉ, trái cây ôn đới, nhưng vẫn thiếu hụt các sản phẩm nhiệt đới như hạt tiêu, hạt điều, cà phê, dừa do rào cản khí hậu. Đây chính là khoảng trống mà nông sản Việt Nam có thể bổ trợ mà không cạnh tranh trực tiếp, gồm cà phê Robusta (Việt Nam hiện là một trong những nguồn cung lớn nhất cho Thổ Nhĩ Kỳ), hồ tiêu, hạt điều, gạo thơm, quế và hoa hồi, cùng nhóm trái cây "exotic" như thanh long, dừa, chanh leo và trái cây sấy.
Với thủy sản, ông Hoàng dẫn số liệu Thổ Nhĩ Kỳ xuất khẩu 2,3 tỷ USD năm 2025 và đặt mục tiêu đạt 3 tỷ USD vào năm 2028, kéo theo nhu cầu nhập khẩu lớn nguyên liệu thô để chế biến sâu phục vụ xuất khẩu sang EU. Trong đó, cá tra Việt Nam đang giữ vị trí nhà cung cấp số 1 thế giới với mức độ cạnh tranh thấp, còn tôm đông lạnh là nguồn cung quan trọng cho kênh nhà hàng - khách sạn (HORECA) đang phục hồi mạnh nhờ ngành du lịch, với hơn 60 triệu lượt khách quốc tế năm 2025.
Chọn đúng kênh phân phối, chủ động phòng ngừa rủi ro tài chính
Về kênh vào thị trường, PGS.TS Đinh Công Hoàng lưu ý doanh nghiệp Việt Nam thường không bán trực tiếp vào siêu thị Thổ Nhĩ Kỳ mà thông qua các nhà nhập khẩu, phân phối lớn - những đơn vị sở hữu kho lạnh, am hiểu thủ tục hải quan và có quan hệ sâu với hệ thống bán lẻ. Thị trường bán lẻ nước này chia theo ba nhóm chính: Siêu thị giá rẻ như BIM, A101, Şok phù hợp với nông sản, đồ hộp gia công nhãn giá rẻ; siêu thị tiêu chuẩn như Migros, CarrefourSA - nơi có thể xây dựng thương hiệu quốc gia cho thủy sản cao cấp, thực phẩm chế biến organic; và kênh HORECA tiêu thụ lượng lớn tôm đông lạnh, phi lê cá, trái cây nhiệt đới, cà phê hạt. Bên cạnh đó, các nền tảng thương mại điện tử như Trendyol, Hepsiburada, Getir cũng là kênh chi phí thấp để thử nghiệm thị trường với nhóm hàng chế biến khô.
Doanh nghiệp cũng cần chuẩn bị sớm về tiêu chuẩn kỹ thuật. Theo ông Hoàng, từ ngày 01/01/2026, các sản phẩm thủy sản, sữa, gelatin, collagen... chỉ được thông quan nếu cơ sở sản xuất có tên trong Hệ thống Cơ sở được phê duyệt của Thổ Nhĩ Kỳ (TROIS), thực hiện đăng ký qua Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển Thị trường (NAFIQPM). Chứng nhận Halal theo tiêu chuẩn OIC/SMIIC cũng gần như là điều kiện bắt buộc do 99% dân số Thổ Nhĩ Kỳ theo đạo Hồi; sản phẩm có logo Halal rõ ràng có thể tăng 30 - 50% tỷ lệ được người tiêu dùng lựa chọn.
Các sản phẩm trà shan tuyết cổ thụ Suối Giàng gồm: bạch trà, hồng trà, hoàng trà, diệp trà có nguồn gốc tại Lào Cai được giới thiệu tại hội thảo
Ở góc độ tài chính, ông Nguyễn Lương Tuấn - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Định chế Tài chính (MSB) cùng đội ngũ chuyên gia, lưu ý doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường xa như Thổ Nhĩ Kỳ thường đối mặt với 5 nhóm rủi ro: Rủi ro đối tác, rủi ro thanh toán, rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất và rủi ro thiếu vốn lưu động. Theo ông Tuấn, doanh nghiệp cần thẩm định kỹ người mua, lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp, thiết kế hợp đồng chặt chẽ và chủ động sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro như hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi ngoại tệ, bảo hiểm thanh toán và tài trợ theo đơn hàng để ổn định doanh thu, bảo vệ biên lợi nhuận.
Theo bà Hằng, trong bối cảnh người tiêu dùng Thổ Nhĩ Kỳ chuyển sang logic "chi tiêu ít hơn nhưng thông minh hơn" - ưu tiên giá cả, hiệu năng và sản phẩm nội địa hoặc tự nhiên - thương hiệu Việt khó cạnh tranh bằng uy tín cao cấp mà cần cạnh tranh bằng giá trị sử dụng, giá cả hợp lý và tích hợp B2B.
“Thương hiệu Việt Nam khó cạnh tranh bằng uy tín thương hiệu cao cấp lúc này, cần cạnh tranh bằng giá trị sử dụng, giá cả cạnh tranh và tích hợp B2B”, bà Nguyễn Việt Hằng nêu tại hội thảo.
PGS.TS Đinh Công Hoàng, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam cho biết, năm 2026 là bước ngoặt khi Thổ Nhĩ Kỳ phục hồi kinh tế và đẩy mạnh đa dạng hóa nguồn cung thực phẩm toàn cầu. Doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể chiếm lĩnh thị phần nếu đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và có chiến lược thâm nhập bài bản, xem thị trường 86 triệu dân này không chỉ là điểm đến, mà còn là bàn đạp để tiến sâu hơn vào châu Âu và Trung Đông.