Đóng

'Cơn lốc' phim ngắn dưới góc nhìn bảo vệ người tiêu dùng - Bài 3: Dòng tiền qua biên giới, câu hỏi về trách nhiệm thuế

Nhà phát triển, đơn vị phân phối và chủ thể xử lý giao dịch có thể là những pháp nhân khác nhau. Vậy trách nhiệm kê khai, khấu trừ và nộp thuế đối với doanh thu phát sinh tại Việt Nam được xác định ra sao?

Dòng tiền qua kho ứng dụng

Mỗi lần người dùng Việt Nam trả tiền mua xu, mở khóa tập phim hoặc đăng ký gói xem phim ngắn, một giao dịch được hình thành giữa người mua và các chủ thể tham gia cung cấp dịch vụ. Với giao dịch thực hiện qua kho ứng dụng, dòng tiền đi qua hệ thống thanh toán, khâu thu phí dịch vụ và đối soát trước khi khoản tiền được chuyển cho nhà phát triển theo thỏa thuận.

Theo báo cáo "Mobile app trends spotlight edition: Vietnam 2026 của Adjust", doanh thu mua trong ứng dụng của phân nhóm phim ngắn tại Việt Nam đạt 11,5 triệu USD (khoảng 302 tỷ đồng). Sự phát triển của thị trường nội dung số trả phí đặt ra yêu cầu xác định rõ doanh thu phát sinh tại Việt Nam và trách nhiệm thuế của từng chủ thể tham gia giao dịch.

Đối với các giao dịch mua gói thuê bao hoặc nạp xu thông qua hệ thống thanh toán của App Store và Google Play, khoản tiền người dùng chi trả được kho ứng dụng tiếp nhận, xử lý và đối soát với nhà phát triển theo chính sách và thỏa thuận áp dụng. Quá trình này có sự tham gia của nhiều chủ thể, đặt ra vấn đề phân định trách nhiệm thuế đối với doanh thu phát sinh tại Việt Nam.

Ngày 21/8/2025, Apple công bố điều chỉnh chính sách thuế đối với các ứng dụng và giao dịch mua trong ứng dụng tại Việt Nam. Theo đó, mức thuế giá trị gia tăng áp dụng đối với tổ chức phát triển ứng dụng đặt ngoài Việt Nam tăng từ 5% lên 10%, đồng thời khoản tiền nhà phát triển nhận cũng được điều chỉnh tương ứng.

Quy định này phù hợp với khoản 3 Điều 9 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, về mức thuế suất 10% đối với dịch vụ do nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam cung cấp cho tổ chức, cá nhân trong nước qua thương mại điện tử và nền tảng số.

Bên cạnh nghĩa vụ thuế, các kho ứng dụng áp dụng phí dịch vụ đối với nhà phát triển theo chính sách và điều kiện tham gia từng chương trình. Theo thông tin công bố trên trang trợ giúp Play Console, tại các thị trường chưa triển khai biểu phí mới, Google Play áp dụng mức phí 15% đối với 1 triệu USD doanh thu đầu tiên mỗi năm của nhà phát triển tham gia chương trình tương ứng và 30% đối với phần doanh thu vượt mức này. Riêng sản phẩm thuê bao tự động gia hạn áp dụng mức phí 15%. Apple cũng thu phí dịch vụ theo chính sách của App Store.

3 chặng của dòng tiền phim ngắn và những vấn đề đặt ra về nghĩa vụ thuế tại Việt Nam.

Thông tin đăng ký thuế của Apple và Google cho thấy các pháp nhân liên quan đã được cơ quan thuế Việt Nam cấp mã số thuế từ năm 2022. Tuy nhiên, việc có mã số thuế chưa đủ để xác định phạm vi doanh thu đã kê khai hoặc số thuế đã nộp đối với từng ứng dụng phim ngắn.

Trong khi đó, nguồn thu thuế từ các nhà cung cấp nước ngoài tiếp tục tăng cùng với sự phát triển của hoạt động kinh doanh trên môi trường số. Cổng thông tin điện tử dành cho nhà cung cấp nước ngoài trở thành kênh quan trọng để doanh nghiệp xuyên biên giới thực hiện đăng ký, kê khai và nộp thuế tại Việt Nam.

Trang chủ Cổng thông tin điện tử dành cho nhà cung cấp nước ngoài của cơ quan thuế Việt Nam.

Theo thông tin Cục Thuế công bố ngày 21/9/2026, trong 8 tháng năm 2026, có 281 nhà cung cấp nước ngoài kê khai qua Cổng thông tin điện tử, nộp hơn 18.130 tỷ đồng tiền thuế. So với kết quả sơ kết 6 tháng đầu năm, số nhà cung cấp nước ngoài tăng thêm 22 đơn vị, từ 259 lên 281. Trước đó, số thu qua Cổng trong 6 tháng đầu năm đạt hơn 12.500 tỷ đồng, bằng 78,1% dự toán năm và tăng 119% so với cùng kỳ năm 2025.

Số thu từ nhà cung cấp nước ngoài là một bộ phận của nguồn thu thuế đối với hoạt động thương mại điện tử và kinh tế số. Trong 8 tháng năm 2026, số thu ngân sách từ các tổ chức, cá nhân có hoạt động thương mại điện tử đạt khoảng 211.100 tỷ đồng, tăng 36,6% so với cùng kỳ. Đây là chỉ tiêu có phạm vi thống kê rộng hơn, bao gồm nhiều nhóm đối tượng kinh doanh và hình thức thực hiện nghĩa vụ thuế, không đồng nhất với số thu hơn 18.130 tỷ đồng từ nhà cung cấp nước ngoài qua Cổng thông tin điện tử.

Số nhà cung cấp nước ngoài đăng ký, kê khai, nộp thuế và số thu qua các mốc thời gian. Nguồn: Cục Thuế, Bộ Tài chính

Các tập đoàn công nghệ như Google, Meta, Microsoft, TikTok, Netflix và Apple nằm trong nhóm nhà cung cấp nước ngoài đã đăng ký thuế tại Việt Nam. Tuy nhiên, số liệu tổng hợp do ngành Thuế công bố hiện chưa phản ánh riêng doanh thu và nghĩa vụ thuế phát sinh từ hoạt động phân phối phim ngắn trả phí. Đối với các ứng dụng phim ngắn, vấn đề đặt ra là doanh thu từ người sử dụng Việt Nam được nhà cung cấp nội dung trực tiếp kê khai, nộp thuế hay được các chủ thể tham gia giao dịch thực hiện khấu trừ, nộp thay theo quy định.

10 ứng dụng và 1 cái tên trong danh sách thuế

Khảo sát 10 ứng dụng phim ngắn trên App Store Việt Nam ngày 2/10/2026, Báo Công Thương ghi nhận 9 pháp nhân đứng tên phát hành. Khi đối chiếu với bản tổng hợp danh sách nhà cung cấp nước ngoài đã đăng ký thuế do website vinatpt.com công bố, chỉ 1 pháp nhân có tên trong danh sách 96 đơn vị được khảo sát.

Cụ thể, ghi nhận TIKTOK PTE. LTD., pháp nhân đứng tên phát hành ứng dụng PineDrama, có mã số thuế 9000000084, đăng ký ngày 4/4/2022. 8 pháp nhân còn lại đứng tên 9 ứng dụng không xuất hiện khi tra cứu theo tên doanh nghiệp.

Bảng đối chiếu pháp nhân đứng tên 10 ứng dụng phim ngắn trên App Store Việt Nam với bản tổng hợp danh sách nhà cung cấp nước ngoài đã đăng ký thuế.

Tuy nhiên, kết quả đối chiếu trên có những giới hạn về phạm vi. Danh sách 96 đơn vị do bên thứ ba tổng hợp từ dữ liệu giai đoạn trước, trong khi theo thông tin Cục Thuế công bố tháng 9/2026, đến hết tháng 8/2026 đã có 281 nhà cung cấp nước ngoài kê khai qua Cổng thông tin điện tử. Mức chênh lệch này cho thấy, bản tổng hợp được khảo sát không phản ánh đầy đủ số lượng nhà cung cấp nước ngoài đang thực hiện nghĩa vụ thuế tại Việt Nam.

Mặt khác, thông tin trên App Store chỉ xác định pháp nhân đứng tên cung cấp ứng dụng, không đồng nghĩa đó là chủ thể trực tiếp hưởng doanh thu hoặc thực hiện nghĩa vụ thuế tại Việt Nam. Nhà phát triển ứng dụng, đơn vị sở hữu nội dung, bên ký hợp đồng thanh toán và chủ thể có nghĩa vụ thuế có thể là những pháp nhân khác nhau.

Theo khoản 1 Điều 40 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP và điểm đ khoản 2 Điều 4 Thông tư số 90/2026/TT-BTC, nhà cung cấp nước ngoài thuộc trường hợp toàn bộ nghĩa vụ thuế đối với doanh thu phát sinh tại Việt Nam đã được khấu trừ, nộp thay theo quy định thì không phải trực tiếp đăng ký thuế.

Vì vậy, việc 8 pháp nhân không xuất hiện trong bản tổng hợp 96 đơn vị không đồng nghĩa các doanh nghiệp này chưa thực hiện nghĩa vụ thuế. Tương tự, việc TIKTOK PTE. LTD. có mã số thuế tại Việt Nam cũng không xác nhận phương thức kê khai, nộp thuế đối với doanh thu từ ứng dụng PineDrama.

Kết quả khảo sát chưa thể đánh giá tình trạng thực hiện nghĩa vụ thuế của từng doanh nghiệp song đã cho thấy giới hạn của dữ liệu công khai khi người tiêu dùng và cơ quan báo chí muốn xác định chủ thể chịu trách nhiệm đối với doanh thu từ các dịch vụ số xuyên biên giới. Vấn đề cần làm rõ là chủ thể nào đang thực hiện nghĩa vụ thuế đối với các giao dịch mua nội dung phim ngắn phát sinh tại Việt Nam, nghĩa vụ đó được thực hiện trực tiếp, thông qua ủy quyền hay qua cơ chế khấu trừ, nộp thay?

Từ kho ứng dụng đến website riêng: Ai thực hiện nghĩa vụ thuế?

Đối với những giao dịch mua gói phim hoặc nạp xu qua App Store, Google Play, khoản tiền người xem thanh toán có thể trải qua nhiều khâu trước khi được đối soát cho nhà phát triển. Bên cạnh thuế giá trị gia tăng, kho ứng dụng còn áp dụng phí dịch vụ theo chính sách và thỏa thuận với nhà phát triển.

Ở đây, việc xác định căn cứ tính thuế là vấn đề quan trọng. Khoản tiền nhà phát triển thực nhận sau khi kho ứng dụng khấu trừ phí dịch vụ không đương nhiên đồng nhất với doanh thu tính thuế hoặc thu nhập chịu thuế.

Nghị định số 252/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, quy định trách nhiệm khấu trừ và nộp thay đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử.

Khoản 2 Điều 43 nêu rõ: "Chủ quản nền tảng thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán (trong nước và ngoài nước) thực hiện khấu trừ, nộp thay số thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quy định của pháp luật thuế giá trị gia tăng, pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp đối với từng giao dịch cung cấp hàng hóa, dịch vụ phát sinh doanh thu tại Việt Nam của nhà cung cấp nước ngoài có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử. Nhà cung cấp nước ngoài đã được chủ quản nền tảng thương mại điện tử khấu trừ, khai và nộp thay số thuế đã khấu trừ thì không phải khai, nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử đã được chủ quản nền tảng thương mại điện tử khấu trừ, nộp thay thuế".

Điều 44 tiếp tục quy định việc xác định số thuế phải khấu trừ theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu phát sinh tại Việt Nam. Trong đó, doanh thu được xác định theo số tiền bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ mà nhà cung cấp được hưởng do tổ chức kinh doanh tại Việt Nam chi trả hoặc chủ quản nền tảng thu hộ theo quy định.

Như vậy, pháp luật đã quy định trách nhiệm khấu trừ, nộp thay và nguyên tắc xác định doanh thu tính thuế đối với những giao dịch thuộc phạm vi điều chỉnh. Đối với hoạt động kinh doanh phim ngắn qua App Store và Google Play, vấn đề đặt ra là hai kho ứng dụng này có thuộc diện chủ quản nền tảng quy định tại khoản 2 Điều 43 hay không. Trường hợp thuộc phạm vi áp dụng, trách nhiệm khấu trừ, nộp thay thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định theo doanh thu của chủ thể nào và theo cơ chế đối soát ra sao?

Việc làm rõ những vấn đề này có ý nghĩa quan trọng bởi chủ thể tiếp nhận thanh toán, đơn vị thu phí dịch vụ và nhà cung cấp nội dung có thể là các pháp nhân khác nhau. Xác định chính xác vai trò của từng bên là cơ sở để thực hiện đúng nghĩa vụ thuế, tránh bỏ sót nguồn thu hoặc khấu trừ trùng đối với cùng một giao dịch.

Bên cạnh cơ chế khấu trừ, nộp thay, Điều 40 và Điều 41 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP quy định việc nhà cung cấp nước ngoài trực tiếp đăng ký, kê khai, nộp thuế hoặc ủy quyền cho tổ chức đủ điều kiện thực hiện. Điều 31 Thông tư số 89/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn việc kê khai, nộp thuế trực tiếp và thông qua bên nhận ủy quyền.

Đối với những nhà cung cấp thuộc diện đăng ký thuế trực tiếp, Điều 40 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP quy định trách nhiệm khai báo thông tin tài khoản nhận thanh toán liên quan đến doanh thu phát sinh tại Việt Nam, bao gồm tài khoản ngân hàng, ví điện tử và các hình thức nhận tiền khác. Hoạt động kinh doanh thường xuyên thực hiện kê khai, nộp thuế theo tháng; trường hợp kinh doanh không thường xuyên thực hiện theo từng lần phát sinh.

Trong khi đó, hoạt động phân phối phim ngắn đang xuất hiện thêm những phương thức thanh toán ngoài kho ứng dụng. Theo báo cáo của Media Partners Asia được Variety và Deadline dẫn ngày 6/8/2026, ReelShort đẩy mạnh thanh toán qua cửa hàng web riêng nhằm giảm chi phí phân phối và phí dịch vụ của kho ứng dụng. Với hình thức này, người xem có thể thanh toán trực tiếp trên website của nhà cung cấp nội dung mà không sử dụng hệ thống thanh toán trong ứng dụng của Apple hoặc Google. Dòng tiền vẫn có thể được xử lý thông qua ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hoặc bên thứ ba theo thỏa thuận.

Tuy nhiên, dữ liệu công khai hiện chưa xác định riêng doanh thu từ kênh website của ReelShort tại Việt Nam, pháp nhân trực tiếp cung cấp dịch vụ và phương thức thực hiện nghĩa vụ thuế đối với những giao dịch này. Việc chuyển từ thanh toán qua kho ứng dụng sang website riêng không làm thay đổi nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với doanh thu thuộc diện chịu thuế tại Việt Nam. Song phương thức kê khai, khấu trừ và nộp thay phụ thuộc vào bản chất giao dịch, vai trò của từng chủ thể và quy định pháp luật tương ứng.

Vấn đề đặt ra là khi dòng tiền từ người sử dụng Việt Nam được chuyển qua nhiều kênh thanh toán và các pháp nhân ở nước ngoài, cơ quan thuế xác định doanh thu phát sinh tại Việt Nam bằng cách nào, đồng thời phân định trách nhiệm kê khai, khấu trừ và nộp thuế ra sao?

Việc xác định giao dịch phát sinh tại Việt Nam được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 40 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP. Quy định này tạo cơ sở pháp lý để nhận diện giao dịch phát sinh doanh thu tại Việt Nam qua các kênh thanh toán xuyên biên giới. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi phụ thuộc vào tính chính xác và khả năng đối chiếu dữ liệu giữa các chủ thể tham gia giao dịch, đặc biệt khi nhà cung cấp nội dung sử dụng nhiều phương thức thanh toán, pháp nhân và đối tác trung gian tại những quốc gia khác nhau.

Khi dòng tiền đi qua các kho ứng dụng và nền tảng thanh toán xuyên biên giới, việc xác định doanh thu tính thuế, chủ thể kê khai và trách nhiệm khấu trừ, nộp thay đặt ra những vấn đề đối với công tác quản lý thuế.

Nhận diện dòng tiền, phân định trách nhiệm thuế

Khả năng kiểm soát dòng tiền từ các giao dịch xuyên biên giới đã được giới chuyên gia thuế đặt ra từ nhiều năm trước, đặc biệt đối với những khoản thanh toán trực tiếp giữa người tiêu dùng Việt Nam và nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài.

Trong bài phỏng vấn đăng trên Tuổi Trẻ ngày 4/4/2022, ông Nguyễn Văn Phụng, khi đó là Cục trưởng Cục Thuế doanh nghiệp lớn thuộc Tổng cục Thuế đã phân tích những giới hạn của cơ chế thuế nhà thầu đối với dịch vụ xuyên biên giới. Theo đó, từ năm 2014, pháp luật đã quy định việc khấu trừ thuế nhà thầu đối với một số khoản thanh toán từ tổ chức Việt Nam cho nhà cung cấp nước ngoài. Tuy nhiên, cơ chế này còn hạn chế khi người tiêu dùng cá nhân thanh toán trực tiếp cho doanh nghiệp nước ngoài mà không thông qua tổ chức trong nước có trách nhiệm khấu trừ.

Ông Nguyễn Văn Phụng dẫn trường hợp người sử dụng thanh toán trực tiếp cho Netflix để minh họa những khó khăn trong tổ chức thu thuế ở thời điểm đó. Việc triển khai Cổng thông tin điện tử dành cho nhà cung cấp nước ngoài từ tháng 3/2022 đã bổ sung phương thức đăng ký, kê khai và nộp thuế trực tiếp, từng bước khắc phục những hạn chế trong quản lý thuế đối với dịch vụ xuyên biên giới.

Tháng 10/2024, trao đổi với báo chí về hoạt động của các sàn thương mại điện tử nước ngoài, bà Nguyễn Thị Cúc - Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam tiếp tục đề cập khó khăn trong kiểm soát doanh thu từ những giao dịch thanh toán bằng thẻ tín dụng cá nhân. Việc thu tiền trước khi giao hàng, thanh toán trực tiếp và chia nhỏ đơn hàng gây khó khăn cho công tác xác định doanh thu, nghĩa vụ thuế. Đồng thời, đề cập trách nhiệm cung cấp thông tin giao dịch của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng và trung gian thanh toán theo pháp luật quản lý thuế. Dù được đưa ra trong bối cảnh quản lý thương mại điện tử hàng hóa, nhận định này cho thấy tầm quan trọng của việc kết nối và đối chiếu dữ liệu thanh toán, vấn đề cũng đặt ra đối với hoạt động cung cấp dịch vụ số xuyên biên giới.

Trao đổi tại hội thảo "Quản trị rủi ro thuế thương mại điện tử" diễn ra ngày 6/8/2026 vừa qua, bà Nguyễn Thị Cúc tiếp tục phân tích những thay đổi trong chính sách quản lý thuế đối với thương mại điện tử như Nghị định số 181/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 và Nghị định số 68/2026/NĐ-CP quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.

Trong đó, các nền tảng thương mại điện tử có chức năng thanh toán thuộc phạm vi điều chỉnh thực hiện khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay đối với hộ, cá nhân kinh doanh. Đối với doanh nghiệp trong nước mua dịch vụ của nhà cung cấp nước ngoài, trách nhiệm khấu trừ, nộp thay được xác định theo quy định áp dụng cho từng giao dịch. Qua các giai đoạn, cơ chế quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh xuyên biên giới đã tiếp tục được hoàn thiện, kết hợp phương thức kê khai trực tiếp, ủy quyền, khấu trừ, nộp thay và khai thác dữ liệu giao dịch điện tử.

Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, quy định tại Điều 40 về trách nhiệm của tổ chức tín dụng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và trung gian thanh toán trong việc phối hợp, kết nối và chia sẻ thông tin phục vụ quản lý thuế. Các tổ chức này có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến giao dịch và thông tin khác của người nộp thuế theo quy định, đồng thời bảo đảm yêu cầu bảo mật thông tin. Tuy nhiên, trách nhiệm cung cấp dữ liệu không đồng nghĩa ngân hàng hoặc trung gian thanh toán mặc nhiên có nghĩa vụ khấu trừ thuế đối với mọi khoản thanh toán quốc tế của người tiêu dùng.

Đối với hoạt động cung cấp phim ngắn trả phí, việc xác định chính xác bên bán dịch vụ, pháp nhân hưởng doanh thu và tổ chức xử lý thanh toán có ý nghĩa quyết định trong việc phân định nghĩa vụ thuế. Đặc biệt, khi một ứng dụng đồng thời thu tiền qua kho ứng dụng và website riêng, dữ liệu giao dịch có thể được xử lý bởi nhiều chủ thể ở những quốc gia khác nhau.

Từ kết quả khảo sát các ứng dụng phim ngắn, đối chiếu dữ liệu đăng ký thuế và nghiên cứu quy định pháp luật hiện hành, Báo Công Thương đặt ra 4 nhóm câu hỏi cần tiếp tục làm rõ với cơ quan quản lý.

Thứ nhất, đối với 8 pháp nhân đứng tên phát hành chín ứng dụng phim ngắn tại Bảng 9, cơ chế thực hiện nghĩa vụ thuế đối với doanh thu phát sinh tại Việt Nam được xác định như thế nào? Những giao dịch này thuộc diện kê khai trực tiếp, thực hiện thông qua tổ chức được ủy quyền hay được khấu trừ, nộp thay theo quy định?

Thứ hai, App Store và Google Play có thuộc phạm vi chủ quản nền tảng thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến và thanh toán quy định tại khoản 2 Điều 43 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP đối với hoạt động cung cấp nội dung phim ngắn hay không? Nếu thuộc phạm vi áp dụng, trách nhiệm khấu trừ và nộp thay được xác định ra sao?

Thứ ba, trong trường hợp kho ứng dụng tiếp nhận thanh toán, thu phí dịch vụ và đối soát doanh thu cho nhà phát triển, căn cứ xác định doanh thu tính thuế thu nhập doanh nghiệp của nhà cung cấp nước ngoài là gì? Trách nhiệm kê khai, khấu trừ và nộp thuế được phân định như thế nào giữa các chủ thể tham gia giao dịch để tránh bỏ sót hoặc khấu trừ trùng?

Thứ tư, đối với giao dịch mua phim ngắn trực tiếp trên website của nhà cung cấp nước ngoài, cơ quan thuế xác định doanh thu phát sinh tại Việt Nam dựa trên những nguồn dữ liệu nào? Cơ chế phối hợp, đối chiếu thông tin giữa cơ quan thuế với ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và các bên liên quan được thực hiện ra sao?

Việc làm rõ những vấn đề trên có ý nghĩa đối với công tác quản lý thuế trong bối cảnh mô hình kinh doanh nội dung số ngày càng đa dạng, đặc biệt khi các nền tảng có thể đồng thời sử dụng nhiều phương thức phân phối và thu tiền.

Đối với doanh nghiệp, minh bạch về pháp nhân cung cấp dịch vụ, điều khoản thanh toán, đơn vị tiếp nhận tiền và đầu mối giải quyết khiếu nại giúp người tiêu dùng xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm khi phát sinh tranh chấp. Việc công khai thông tin liên quan đến nghĩa vụ thuế được thực hiện theo phạm vi và hình thức pháp luật quy định.

Đối với cơ quan quản lý, việc hoàn thiện khả năng tra cứu, đối chiếu dữ liệu công khai về nhà cung cấp nước ngoài có thể hỗ trợ doanh nghiệp, người tiêu dùng và cơ quan báo chí tiếp cận thông tin. Tuy nhiên, dữ liệu đăng ký thuế không thay thế kết luận của cơ quan có thẩm quyền về tình trạng chấp hành nghĩa vụ thuế của từng doanh nghiệp.

Từ kho ứng dụng đến website riêng, phương thức thanh toán có thể thay đổi nhưng nghĩa vụ thuế đối với doanh thu thuộc diện chịu thuế tại Việt Nam vẫn được xác định theo quy định pháp luật. Vấn đề đặt ra là nhận diện chính xác dòng tiền, xác định đúng doanh thu tính thuế và phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể tham gia giao dịch, tránh bỏ sót nguồn thu hoặc phát sinh nghĩa vụ thuế trùng lặp. Minh bạch trong quản lý thuế xuyên biên giới góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng trên không gian số.

Đại Bàng