Với ông Trần Văn Sao, khách hàng sử dụng điện tại xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk, chuyển đổi số bắt đầu từ một việc quen thuộc: trả tiền điện hằng tháng. Nhà xa trung tâm, trước đây ông Sao phải thu xếp thời gian đi nộp tiền điện. Nay, khoản thanh toán được trích tự động từ tài khoản, giúp ông bớt một lần đi lại.
Sự thuận tiện ấy là kết quả của nhiều thay đổi phía sau: công tơ được đọc từ xa, dữ liệu được cập nhật, giao dịch được xử lý trên môi trường điện tử. Tại Công ty Điện lực Đắk Lắk (PC Đắk Lắk), công nghệ đang đi vào từng công việc, kết nối hoạt động quản trị với nhu cầu của người sử dụng điện.
Công ty Điện lực Đắk Lắk đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị, vận hành lưới điện và phục vụ khách hàng, cụ thể hóa Nghị quyết số 57 bằng những đổi mới từ thực tiễn.
Trên nền tảng đã xây dựng, Công ty tiếp tục cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Khi địa bàn quản lý mở rộng sau sáp nhập, yêu cầu đặt ra càng rõ: dữ liệu phải thống nhất, phối hợp phải thông suốt và hiệu quả phải đo đếm được.
Trước màn hình tại Trung tâm điều khiển, nhân viên vận hành có thể theo dõi trạng thái, tiếp nhận cảnh báo và thao tác với thiết bị đã được kết nối. Việc đóng, cắt từ xa giúp giảm nhu cầu di chuyển đến hiện trường, hỗ trợ xử lý công việc trên địa bàn rộng.
Đến tháng 9/2026, hệ thống giám sát, điều khiển và thu thập dữ liệu SCADA của PC Đắk Lắk có 1.325 thiết bị phục vụ giám sát, điều khiển. Năm 2025, đơn vị thực hiện thành công 50.097 lần thao tác xa; tám tháng đầu năm 2026 tiếp tục thực hiện thành công 41.681 lần.
Đằng sau những con số là thay đổi trong cách tổ chức vận hành. Thông tin tập trung giúp bộ phận điều độ có căn cứ nhận diện tình huống, lựa chọn phương án xử lý và phối hợp với lực lượng hiện trường.
Ông Hà Văn Chương, Phó Giám đốc PC Đắk Lắk, cho biết từ dấu mốc đưa Trung tâm điều khiển vào vận hành năm 2016, Công ty đã từng bước mở rộng khả năng giám sát và điều khiển lưới điện từ xa. Cùng với đó, dữ liệu kiểm tra hiện trường, vận hành và thí nghiệm được cập nhật để đánh giá tình trạng thiết bị, chủ động bố trí bảo dưỡng. Mục tiêu xuyên suốt là giảm sự cố, rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao độ tin cậy cung cấp điện.
Tinh thần khai thác dữ liệu của Nghị quyết số 57 được cụ thể hóa qua cách Công ty quyết định thời điểm kiểm tra, sửa chữa. Bảo dưỡng theo tình trạng thiết bị (gọi tắt là CBM), được áp dụng cho toàn bộ thiết bị trên lưới 110 kV và các nhóm thiết bị chính trên lưới trung áp thuộc phạm vi triển khai.
Hồ sơ vận hành, sự cố, thí nghiệm được cập nhật trên phần mềm quản lý kỹ thuật PMIS, phục vụ đánh giá và xác định nhu cầu bảo dưỡng. Dữ liệu đầy đủ giúp bộ phận kỹ thuật sắp xếp thứ tự ưu tiên, theo dõi dấu hiệu bất thường và chủ động xử lý nguy cơ.
Ông Trần Văn Thuận, Giám đốc PC Đắk Lắk (thứ 2 từ phải qua) kiểm tra công tác vận hành hệ thống điện.
Công tác kiểm tra lưới điện 110 kV và trung áp đã sử dụng 100% phiếu kiểm tra điện tử. Kết quả được đồng bộ với PMIS, giúp thông tin từ hiện trường đi vào hệ thống quản lý, thuận lợi cho theo dõi việc khắc phục tồn tại.
Dữ liệu lưới điện 110 kV cũng được khai thác trên bản đồ số WebGIS. Với lưới hạ áp, Công ty hoàn thành thu thập tọa độ cột thuộc phạm vi 11.623 trạm biến áp công cộng và chuyên dùng. Chuẩn hóa vị trí, thông tin thiết bị tạo nền tảng kết nối quản lý kỹ thuật với kinh doanh điện năng.
Dữ liệu giúp nâng cao tính chủ động trong vận hành, còn dịch vụ số mang lại sự thuận tiện cho khách hàng. Hiệu quả thực hiện Nghị quyết 57 được thể hiện bằng những thay đổi cụ thể: rút ngắn thời gian giải quyết yêu cầu, giảm số lần đi lại và giúp người dân dễ dàng theo dõi thông tin sử dụng điện.
Khách hàng của PC Đắk Lắk có thể gửi yêu cầu, tra cứu thông tin, thanh toán qua website, ứng dụng chăm sóc khách hàng, email, Zalo OA, Cổng Dịch vụ công quốc gia và các kênh thanh toán điện tử. Nhiều lựa chọn giúp người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ phù hợp với điều kiện của mình.
Đến tháng 8/2026, thời gian giải quyết thủ tục thuộc trách nhiệm ngành điện trong chỉ tiêu tiếp cận điện năng đạt 1,78 ngày, sớm hơn 5,22 ngày so với kế hoạch EVN giao. Tỷ lệ khách hàng sử dụng dịch vụ điện trên môi trường mạng và tỷ lệ yêu cầu được thực hiện theo phương thức điện tử trong toàn bộ quá trình cung cấp dịch vụ đều đạt 100%.
Với doanh nghiệp, rút ngắn thủ tục điện góp phần hỗ trợ tiến độ đưa cơ sở sản xuất, kinh doanh vào hoạt động. Với người dân, giao dịch điện tử giúp giảm việc đi lại và thuận tiện theo dõi.
PC Đắk Lắk đã hợp tác với 21 ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán. Tỷ lệ thanh toán tiền điện không dùng tiền mặt đạt 100% theo cả số lượng khách hàng và doanh thu.
PC Đắk Lắk hợp tác với các ngân hàng, tỷ lệ thanh toán tiền điện không dùng tiền mặt đạt 100%.
Đến tháng 8/2026, Công ty quản lý 975.328 công tơ khách hàng được thu thập dữ liệu qua hệ thống đo xa, phục vụ theo dõi sản lượng và kiểm tra biến động tiêu thụ.
Trong 976.207 khách hàng được thống kê, có 510.386 khách hàng nhận thông báo qua ứng dụng chăm sóc khách hàng, chiếm 52,28%; số còn lại được phân bổ qua SMS và email. Duy trì nhiều kênh thông tin giúp dịch vụ phù hợp với thói quen sử dụng công nghệ của từng nhóm khách hàng.
Để khách hàng được phục vụ nhanh hơn, quy trình nội bộ cũng phải vận hành hiệu quả hơn. Đó là yêu cầu PC Đắk Lắk đặt ra khi tiếp tục đổi mới quản trị, thống nhất cách làm trên địa bàn mở rộng.
Ngày 24/2/2025, Đảng ủy EVN ban hành Chương trình hành động số 40-Ctr/ĐU thực hiện Nghị quyết 57. Với PC Đắk Lắk, những nền tảng hình thành trước đó là cơ sở để triển khai các nhiệm vụ mới trong sản xuất, kinh doanh và đầu tư xây dựng.
Từ đường dây đến trạm biến áp, đội ngũ công nhân Công ty Điện lực Đắk Lắk chủ động kiểm tra, bảo dưỡng, giữ dòng điện thông suốt phục vụ sản xuất và sinh hoạt.
Công ty đã trang bị chứng thư số nội bộ EVN-CA cho 100% cán bộ, công nhân viên. Chữ ký số được tích hợp vào văn phòng điện tử, phiếu công tác, giao nhận vật tư, quản lý kỹ thuật, kinh doanh và tài chính.
Ứng dụng SmartEVN được triển khai, toàn bộ cán bộ, công nhân viên đã sử dụng. Hệ thống thanh toán điện tử được áp dụng từ tháng 6/2023 đối với cấp phát chi phí sản xuất, kinh doanh và chi lương.
Trong quản lý vật tư, 100% phiếu xuất, nhập kho thuộc phạm vi áp dụng được ký số, trừ phiếu xuất kho cho đơn vị ngoài ngành. Trong đầu tư xây dựng, toàn bộ gói thầu chào hàng cạnh tranh và đấu thầu rộng rãi được tổ chức qua mạng. Ông Hà Văn Chương nhấn mạnh: “Chúng tôi xác định chuyển đổi số phải xuất phát từ yêu cầu thực tế của Công ty và nhu cầu của khách hàng. Mỗi ứng dụng, mỗi quy trình được số hóa đều phải giúp công việc được giải quyết nhanh hơn, dữ liệu chính xác hơn và việc phối hợp giữa các bộ phận thuận lợi hơn”.
Cùng với công nghệ, Công ty chú trọng kỹ năng của người sử dụng. Chuyên đề chuyển đổi số, đổi mới tư duy quản trị được phổ biến cho hơn 150 cán bộ, nhân viên. Toàn bộ cán bộ, công nhân viên tham gia đợt đào tạo chung về chuyển đổi số và phần mềm dùng chung trên hệ thống học trực tuyến.
Phong trào đề xuất ý tưởng, giải pháp thu hút 177 đóng góp. Những đề xuất từ người trực tiếp làm việc giúp nhận diện bất cập, bổ sung nhu cầu cải tiến từ thực tiễn.
Theo ông Trần Văn Thuận, Giám đốc PC Đắk Lắk, thời gian tới, Công ty tập trung nâng chất lượng dữ liệu PMIS, triển khai CMIS 4.0, nâng cấp hệ thống thu thập dữ liệu đo đếm và hoàn thiện ứng dụng hiện trường. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong xử lý, nhận diện hình ảnh tiếp tục triển khai theo hướng dẫn của Tổng công ty Điện lực miền Trung.
Ông Trần Văn Thuận, Giám đốc PC Đắk Lắk.
Công ty đồng thời duy trì giải pháp bảo vệ, theo dõi hệ thống và đầu tư tường lửa tập trung. An toàn thông tin gắn trực tiếp với yêu cầu duy trì vận hành, cung cấp dịch vụ.
“Hiệu quả chuyển đổi số phải được thể hiện bằng kết quả cụ thể. khách hàng giao dịch thuận tiện hơn, người lao động xử lý công việc hiệu quả hơn và lưới điện vận hành an toàn, tin cậy hơn”, ông Thuận khẳng định.
Trong triển khai Nghị quyết số 57, EVN yêu cầu đặt mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể theo từng lĩnh vực; người đứng đầu trực tiếp chỉ đạo, kiểm soát thay đổi về hiệu quả công việc và năng suất lao động. Định hướng đến năm 2030 là phát triển EVN thông minh, bền vững trên cơ sở chuyển đổi số toàn diện.