Nghị quyết số 57-NQ/TW phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.
Để hiện thực hóa định hướng này, một yêu cầu đặt ra là tăng cường liên kết giữa Nhà nước, cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp, đặc biệt trong việc đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường.
Đóng góp tham luận tại Hội thảo “Mô hình liên kết Nhà nước - nhà trường, viện nghiên cứu - doanh nghiệp trong tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo” diễn ra ngày 17/10 tại Quảng Ninh, ông Nguyễn Mạnh Hùng, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng, cần thay đổi cách tiếp cận trong thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Theo ông, trọng tâm cần chuyển từ hỗ trợ đầu vào nghiên cứu sang tạo đầu ra cho công nghệ, gắn hoạt động nghiên cứu với nhu cầu thực tế, đơn đặt hàng và thị trường. Trong đó, Nhà nước cần phát huy vai trò người mua đầu tiên, doanh nghiệp tham gia xác định bài toán và phát triển sản phẩm, còn viện, trường gắn nghiên cứu với yêu cầu ứng dụng.
Ông Nguyễn Mạnh Hùng, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.
Nhà nước cần trở thành người mua đầu tiên của sản phẩm công nghệ
Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, cách tiếp cận truyền thống trong nghiên cứu và phát triển thường đi từ khoa học đến công nghệ, từ công nghệ đến sản phẩm rồi mới tiếp cận thị trường. Hành trình này kéo dài, tiềm ẩn nhiều rủi ro và chỉ một phần nhỏ kết quả nghiên cứu trở thành sản phẩm thương mại. Cách tiếp cận này phù hợp với nghiên cứu cơ bản, nhưng với nghiên cứu ứng dụng thì chưa phù hợp.
Cách tiếp cận mới là bắt đầu từ bài toán thực tiễn và nhu cầu thị trường. Từ nhu cầu tới bài toán, từ bài toán tới yêu cầu về sản phẩm, từ sản phẩm tới công nghệ cần có và từ công nghệ tới khoa học cần nghiên cứu. Điểm mới cốt lõi là đưa người sử dụng vào đầu quá trình nghiên cứu, gắn nghiên cứu với điều kiện ứng dụng và mua hàng. Đây là cách tiếp cận "từ đất lên trời".
Ông Nguyễn Mạnh Hùng nhận định, trong cách tiếp cận này, Nhà nước là hộ tiêu dùng lớn nhất của nền kinh tế. Mỗi năm Nhà nước chi tiêu khoảng 2 triệu tỷ đồng, tương đương 80 tỷ đô la Mỹ. Nếu Nhà nước hướng chi tiêu trong mọi lĩnh vực của mình vào các sản phẩm/dịch vụ có hàm lượng đổi mới công nghệ, thì đây sẽ là lực đẩy mạnh nhất cho ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thay vì chỉ cấp kinh phí để thực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu, Nhà nước có thể đặt hàng trên cơ sở nhu cầu cụ thể, xác định yêu cầu đối với sản phẩm, mức giá và số lượng dự kiến mua. Khi đó, sức mua của Nhà nước trở thành công cụ thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
“Nhà nước dùng sức mua của mình để biến nhu cầu công thành thị trường cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo”, ông Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh.
Vì vậy, theo ông Nguyễn Mạnh Hùng cần xây dựng một đầu mối chuyên nghiệp thực hiện nhiệm vụ đặt hàng công nghệ. Trung tâm đổi mới sáng tạo cấp tỉnh có thể đảm nhận vai trò này. Nguyên tắc là cơ quan nào có bài toán thì cơ quan đó đặt hàng và chịu trách nhiệm sử dụng; nếu chưa đủ năng lực đặt hàng thì thuê chuyên gia hỗ trợ, qua đó từng bước hình thành năng lực.
Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, đặt hàng sản phẩm công nghệ có thể đồng thời giúp Nhà nước giải quyết bài toán của mình, thay đổi phương thức vận hành dựa trên công nghệ mới và tạo thị trường để doanh nghiệp phát triển công nghệ, mở rộng quy mô. Nếu Nhà nước dành một phần chi tiêu cho các sản phẩm công nghệ Việt Nam, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ hội phát triển.
Bên cạnh đặt hàng trực tiếp, ông Nguyễn Mạnh Hùng đề xuất sử dụng "voucher công nghệ" nhằm kích thích nhu cầu ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp. Theo cơ chế này, Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí, doanh nghiệp chủ động lựa chọn sản phẩm, dịch vụ công nghệ phù hợp và cùng chi trả. Nhu cầu xuất phát từ doanh nghiệp giúp giảm gánh nặng cho Nhà nước trong việc tự xác định từng bài toán và giải pháp, đồng thời tạo thị trường cho doanh nghiệp công nghệ. Cụ thể, nếu dành 5% ngân sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cho "voucher công nghệ", tương đương khoảng 2.500 tỷ đồng, theo mô hình Nhà nước bỏ ra một đồng và doanh nghiệp đóng góp thêm hai hoặc ba đồng, có thể hình thành thị trường công nghệ hàng chục nghìn tỷ đồng.
Một yêu cầu khác là mở rộng mục tiêu hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, từ thành công về kỹ thuật đến khả năng ứng dụng và thương mại hóa. Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, hỗ trợ không nên dừng ở sản phẩm mẫu mà cần kéo dài đến sản xuất loạt 0 và những đơn hàng đầu tiên.
Sản phẩm mẫu chứng minh công nghệ có thể hoạt động; sản xuất loạt 0 kiểm chứng khả năng sản xuất ổn định, chất lượng và giá thành; còn bán được hàng mới chứng minh sản phẩm đáp ứng nhu cầu thực tế. Nếu hỗ trợ chỉ dừng ở sản phẩm mẫu, kết quả nghiên cứu vẫn có thể còn cách xa ứng dụng.
Do đó, cần thiết kế cơ chế hỗ trợ xuyên suốt quá trình đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường, từ hoàn thiện sản phẩm, sản xuất thử, thử nghiệm tại khách hàng đến kiểm định, chứng nhận và tiếp cận những khách hàng đầu tiên. Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, nghiên cứu cơ bản cần được hỗ trợ đầu vào, trong khi nghiên cứu ứng dụng cần được hỗ trợ hướng tới kết quả đầu ra.
Đưa doanh nghiệp vào từ đầu để tạo đầu ra cho nghiên cứu
Bàn về quan hệ hợp tác “3 nhà” giữa Nhà nước, doanh nghiệp và viện, trường, ông Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng cần đặt ở vị trí trung tâm một mối quan hệ có ý nghĩa quan trọng khác: doanh nghiệp làm công nghệ và doanh nghiệp sử dụng công nghệ.
Ông Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh, doanh nghiệp sử dụng công nghệ có bài toán thật, môi trường thử nghiệm và khả năng trả tiền. Doanh nghiệp công nghệ có năng lực tìm lời giải, phát triển sản phẩm. Hai bên kết hợp thì nhu cầu chuyển thành đơn hàng, công nghệ chuyển thành năng suất và doanh thu.
Điểm đột phá là thay đổi cách hợp tác, từ mua sản phẩm có sẵn sang cùng đặt bài toán, cùng phát triển và cam kết mua khi sản phẩm đạt yêu cầu. Với doanh nghiệp công nghệ đã có sản phẩm, ông Nguyễn Mạnh Hùng cũng đề nghị thay đổi cách bán hàng, chuyển từ bán sản phẩm sang bán kết quả. Chẳng hạn, thay vì bán một sản phẩm trí tuệ nhân tạo (AI), doanh nghiệp có thể cung cấp giải pháp hướng tới kết quả cụ thể, như giảm 20% chi phí nhân công.
Cùng với đó, doanh nghiệp công nghệ Việt Nam cần phát triển một số nền tảng số và sản phẩm công nghệ phổ thông dùng chung cho số đông hoặc cho từng ngành, dễ sử dụng, chi phí thấp, để doanh nghiệp và người dân có thể ứng dụng ngay. Đây là một cách rất hiệu quả để đẩy nhanh, phổ cập việc ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đối với viện, trường, ông Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng doanh nghiệp cần tham gia ngay từ đầu quá trình nghiên cứu, đặt bài toán, cùng đầu tư và cam kết đưa công nghệ vào sản phẩm khi nghiên cứu thành công. Viện, trường tập trung giải quyết phần khoa học, công nghệ; doanh nghiệp chịu trách nhiệm phát triển sản phẩm và thị trường; Nhà nước ưu tiên hỗ trợ những mô hình hợp tác như vậy.
Khi doanh nghiệp đồng hành từ đầu, kết quả nghiên cứu có con đường đi vào thực tiễn, còn viện, trường có thêm nguồn lực từ chính giá trị tạo ra. Cách làm này cũng gắn trách nhiệm của từng chủ thể với nhu cầu ứng dụng, thay vì để hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm diễn ra tách rời thị trường.
Ông Nguyễn Mạnh Hùng đề xuất sử dụng "voucher công nghệ" nhằm kích thích nhu cầu ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp. Theo cơ chế này, Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí, doanh nghiệp chủ động lựa chọn sản phẩm, dịch vụ công nghệ phù hợp và cùng chi trả. Nhu cầu xuất phát từ doanh nghiệp giúp giảm gánh nặng cho Nhà nước trong việc tự xác định từng bài toán và giải pháp, đồng thời tạo thị trường cho doanh nghiệp công nghệ.