Đóng

Dệt may tăng trưởng 2 con số: Cách nào khả thi?

Ngành dệt may đang gặp khó với "bài toán" tăng trưởng 2 con số trong bối cảnh volum thị trường thế giới mở rất nhỏ, lao động - nguồn lực quan trọng nhất đã “đến hạn”.

Khó chồng khó

Khát vọng đưa Việt Nam bước vào quỹ đạo tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số đã trở thành mục tiêu chiến lược giai đoạn 2026 - 2030 của cả hệ thống chính trị. Trong bối cảnh các động lực tăng trưởng truyền thống đang dần suy giảm buộc mỗi ngành hàng đều phải có những hướng đi riêng để hoà nhịp phát triển cùng đất nước.

Ông Lê Tiến Trường, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Dệt may Việt Nam. Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội

Ở góc độ ngành dệt may, mục tiêu này theo lời ông Lê Tiến Trường, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn dệt may Việt Nam là một thách thức lớn. Bởi lẽ, năm 2024 ngành dệt may Việt Nam đạt 44 tỷ USD, chiếm 11% tổng kinh ngạch xuất khẩu cả nước, thặng dư thương mại đạt khoảng 21 tỷ USD. Nếu đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng theo chiều rộng 10% liên tục trong 5 năm tới thì đến năm 2030 ngành dệt may phải đạt quykhoảng 75 tỷ USD.

Trong khi đó, tổng cầu của thị trường dệt may thế giới 10 năm qua, từ năm 2015 đến 2024 chỉ khoảng 1,8%. Trong nước, 6 năm qua tốc độ tăng trưởng của ngành dệt may chỉ khoảng 6% nhưng quan trọng hơn, lao động không tăng hơn được, tuyển dụng rất khó khăn.

Xét trên tổng cầu của thị trường thế giới và khả năng cung ứng của lực lao động trong nước, nếu chọn con đường tăng trưởng theo chiều rộng. Kim ngạch xuất khẩu tăng 10% đều đặn trong 5 năm tới để đạt tới 75 tỷ USD vào năm 2030 đối với ngành dệt may là không khả thi”, ông Trường khẳng định.

Dựa trên mức tăng trưởng bình quân những năm qua, ông cũng phân tích, mỗi 1% tăng trưởng ngành dệt may đóng góp khoảng 0,03 đến 0,05% GDP của cả nước. Như vậy, nếu chỉ tăng trưởng 6%/năm thì dệt may sẽ hụt so với mục tiêu 2 con số, từ 0,1 - 0,2% mỗi năm và cần khu vực khác bù vào.

Giải pháp nào hiệu quả?

Với bối cảnh như vậy, giải pháp nào khả thi để ngành dệt may có thể đạt tốc độ tăng trưởng 2 con số, đóng góp vào mục tiêu chung của cả nước. Về điều này, xuất phát từ hai công thức, gồm: Chênh lệch giữa t lệ nhập khẩu và t lệ xuất khẩu; thu nhập tiền lương của người lao động trong khu vực sản xuất, lãnh đạo Tập đoàn dệt may chỉ ra hai “con đường” để ngành dệt may có thể đạt tăng trưởng 2 con số.

Đầu tư công nghệ hiện đại là giải pháp cho ngành dệt may tăng trưởng theo chiều sâu. Ảnh minh hoạ

Đầu tiên, tăng trưởng về kim ngạch xuất khẩu không đạt 10% nhưng nhờ giảm nhập khẩu cho nên tỷ lệ thặng dư thương mại đạt và tăng hơn 10%. Con đường thứ hai, nhờ tự động hóa, đổi mới công nghệ giúp năng suất lao động trên đầu người cao lên và có điều kiện để trả được tiền lương cho người lao động tăng trên 10%. "Nếu làm được hai việc này thì dệt may tuy có thể tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chỉ 4 - 5% hàng năm nhưng vẫn đóng góp thực tế vào tăng trưởng GDP 2 con số", ông Trường nhận định. Muốn làm được việc này, bên cạnh sự chủ động và nỗ lực, doanh nghiệp dệt may rất cần sự khuyến khích và hỗ trợ từ chính sách.

Thứ nhất, cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp trong nước đầu tư và sản xuất nguyên liệu. Lĩnh vực đầu tư này cũng nên được ứng xử như đầu tư vào hạ tầng phát triển bền vững của một ngành. Bởi vì từ trước đến nay, do quy mô còn nhỏ nên ngành luôn luôn bị bất lợi trước những ông lớn về sản xuất nguyên phục liệu như Trung Quốc, Ấn Độ.

Tuy nhiên, Việt Nam hiện có nhiều hiệp định thương mại tự do, ưu đãi về thuế quan mở ra cơ hội thị trường rất lớn. Bên cạnh đó, xu hướng bảo hộ thương mại của một số quốc gia nhập khẩu cũng mở ra cơ hội tốt cho Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan cao hơn nếu có tỷ lệ nội địa hoá tốt hơn.

Thứ hai, có chính sách khuyến khích để sử dụng quỹ đổi mới khoa học, công nghệ, giảm thuế cho doanh nghiệp, nhất là với doanh nghiệp đầu tư hiện đại hóa, robot hóa để tăng năng suất lao động. “Trước đây để sản xuất 10.000 cọc sợi phải dùng 100 công nhân, với công nghệ sản xuất tốt hơn, Việt Nam hiện dùng khoảng 30 công nhân nhưng Trung Quốc chỉ cần 6 công nhân. Khoảng cách quá lớn, cần bàn tay hỗ trợ của Nhà nước để trợ lực cho doanh nghiệp rút ngắn”, ông Trường ví dụ.

Thứ ba, chính sách khuyến khích được thực hiện trực tiếp hơn. Nếu doanh nghiệp đạt mức tăng trưởng hơn 10%, ví dụ 11%, thì 1% đó Nhà nước hoàn lại cho doanh nghiệp thông qua việc khấu trừ vào thuế thu nhập doanh nghiệp. Tương tự, nếu thu nhập của người lao động tăng 12%, thì 2% tăng vượt đó cũng giảm trừ vào thuế thu nhập doanh nghiệp.

Cuối cùng, theo ông Lê Tiến Trường, trong định hướng về phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, với doanh nghiệp thị trường vẫn là mối quan lớn. Bởi lẽ, những năm qua, ngành dệt may đã sản xuất ra sản phẩm xanh nhưng rất khó tiêu thụ, nguyên do, giá thành của những sản phẩm này quá cao.

Cùng đó, để có nguồn nguyên liệu cho sản xuất xanh, cần đầu tư sản xuất nguyên liệu tuần hoàn tại Việt Nam. “Chỗ này cần hết sức quan tâm, bởi nguyên liệu đầu vào cho sản xuất tuần hoàn là sản phẩm đã qua sử dụng và nguồn cung tại Việt Nam xác định là không đủ. Có khả năng chúng ta phải nhập khẩu những phế liệu để tổ chức sản xuất tuần hoàn tại Việt”, ông Trường nêu.

Tăng trưởng 2 con số không chỉ là mục tiêu riêng của ngành nào mà là mục tiêu chung của cả nền kinh tế, được cả hệ thống chính trị vào cuộc. Mỗi ngành, trong đó có dệt may đều có những khó khăn riêng, tuy nhiên tìm ra giải pháp hữu hiệu, hợp lý không chỉ là nhiệm vụ còn là trách nhiệm với đất nước, với quốc gia.

Để đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số, ngành dệt may không còn khả năng tăng trưởng theo chiều rộng mà cần hướng vào đầu tư khoa học, công nghệ để tăng trưởng theo chiều sâu. Để làm được điều này, doanh nghiệp dệt may cần trợ lực từ các chính sách đúng, trúng và mạnh.

 

Hải Linh