Đóng

Điện năng đồng hành với nhịp tăng trưởng công nghiệp Đồng Nai

Trong nhịp tăng trưởng công nghiệp của Đồng Nai, nâng chất lượng cung cấp điện và tăng tốc đầu tư lưới điện đang góp phần tạo nền tảng cho sản xuất, kinh doanh.

Đáp ứng nhu cầu điện của trung tâm công nghiệp

9 tháng năm 2026, kinh tế TP. Đồng Nai tăng trưởng khá, với tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 10,01% so với cùng kỳ. Theo cơ quan thống kê địa phương, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,14%, đóng góp khoảng 65,82% vào mức tăng trưởng chung; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,5%. Những kết quả này tiếp tục khẳng định vị trí chủ lực của sản xuất công nghiệp trong cơ cấu tăng trưởng địa phương.

Sức bật công nghiệp đặt ra yêu cầu lớn đối với hạ tầng điện. Với nhà máy sản xuất theo dây chuyền, yếu tố quan trọng không chỉ là đủ điện mà còn là khả năng cung cấp ổn định, liên tục. Chất lượng cấp điện vì thế trở thành một điều kiện ảnh hưởng đến việc tổ chức sản xuất và thực hiện kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp.

Trao đổi với báo Công Thương, ông Trần Thế Du, Phó Giám đốc Công ty Điện lực Đồng Nai cho biết, lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng điện thương phẩm của đơn vị đạt 15.993,67 triệu kWh, tăng 5,88% so với cùng kỳ năm 2025 và bằng 73,03% kế hoạch năm. Trong đó, điện phục vụ ngành công nghiệp và xây dựng đạt 10.743,93 triệu kWh, chiếm 67,18% tổng sản lượng điện thương phẩm.

Như vậy, cứ 100 kWh điện thương phẩm tại TP. Đồng Nai thì hơn 67 kWh phục vụ công nghiệp và xây dựng. Tỷ trọng này cho thấy tính chất công nghiệp rõ nét trong cơ cấu sử dụng điện, đồng thời đặt ra yêu cầu bám sát phụ tải ở các khu vực tập trung nhà máy. Năng lực cấp điện cần được xem xét cả ở quy mô toàn địa bàn và khả năng đáp ứng tại từng khu vực sản xuất.

Ông Trần Thế Du, Phó Giám đốc Công ty Điện lực Đồng Nai.

Cùng với đáp ứng sản lượng, theo ông Trần Thế Du, PC Đồng Nai chú trọng độ tin cậy cung cấp điện. Lũy kế 9 tháng, thời gian mất điện bình quân của khách hàng (SAIDI) là 131,16 phút; tần suất mất điện kéo dài bình quân (SAIFI) ở mức 1,02 lần/khách hàng; tần suất mất điện thoáng qua (MAIFI) là 0,62 lần/khách hàng. Các chỉ số giúp theo dõi thời gian và số lần khách hàng chịu ảnh hưởng bởi gián đoạn cấp điện.

Với khách hàng công nghiệp, các chỉ số này gắn với nguy cơ dừng máy hoặc phải điều chỉnh lịch sản xuất khi điện bị gián đoạn. Bởi vậy, hạn chế thời gian và tần suất mất điện cũng là cách giảm ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Cần lưu ý đây là kết quả lũy kế chín tháng, không phải chỉ tiêu đã hoàn thành của cả năm.

Đáng chú ý, tỷ lệ tổn thất điện năng lũy kế đạt 2,81%, thấp hơn 0,08 điểm phần trăm so với cùng kỳ và thấp hơn 0,03 điểm phần trăm so với kế hoạch năm 2026. Theo PC Đồng Nai, kết quả có được từ việc triển khai các giải pháp quản lý kỹ thuật, vận hành và tối ưu lưới điện. Giảm tổn thất đồng nghĩa với nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống trong điều kiện sản lượng điện phục vụ công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn.

Đầu tư lưới điện tạo dư địa cho phát triển

Nếu các chỉ số vận hành cho thấy chất lượng cung cấp điện hiện tại, tiến độ xây dựng lưới điện phản ánh sự chuẩn bị cho nhu cầu tiếp theo. Khi phụ tải công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, năng lực đường dây, trạm biến áp và mạng phân phối phải được phát triển phù hợp với sự mở rộng của hoạt động sản xuất.

Theo ông Trần Thế Du, trong 9 tháng năm 2026, Công ty Điện lực Đồng Nai hoàn thành thi công và đóng điện 9/10 công trình lưới điện 110kV theo kế hoạch. Đối với lưới trung, hạ thế, đơn vị đã đóng điện 52/64 công trình. Hai cấp lưới bổ trợ nhau: lưới 110kV cấp điện ở cấp điện áp cao, còn mạng trung, hạ thế kết nối đến khu vực sử dụng.

Đầu tư đồng thời các cấp lưới là yêu cầu quan trọng để hệ thống phát huy hiệu quả. Một dự án 110kV chỉ thực sự hỗ trợ tốt nhu cầu phụ tải khi mạng phân phối liên quan cũng đáp ứng điều kiện kỹ thuật. Bởi vậy, tiến độ từng dự án không chỉ được nhìn qua số công trình, mà còn qua mức độ đồng bộ của mạng lưới.

Hạ tầng trạm biến áp và đường dây truyền tải điện được đầu tư, góp phần nâng cao năng lực cung cấp điện, đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp tại Đồng Nai.

Đến hết tháng 9/2026, giải ngân đầu tư xây dựng đạt 969,675 tỷ đồng, tương đương 78,5% kế hoạch năm. Tuy nhiên, tỷ lệ giải ngân cần gắn với khối lượng thi công, nghiệm thu và đóng điện. Với ngành điện, công trình chỉ mang lại giá trị phục vụ sản xuất khi đã đáp ứng yêu cầu kỹ thuật để vận hành an toàn.

Ngày 24/5/2026, công trình mạch 2 đường dây 110kV Xuân Lộc - Xuân Trường được đóng điện, với tổng mức đầu tư 44,3 tỷ đồng. Dự án gồm 4,93 km đường dây và các hạng mục mở rộng ngăn lộ ở hai đầu tuyến. Đây là một ví dụ về đầu tư tăng cường kết nối lưới điện trên địa bàn.

Theo PC Đồng Nai, để hoàn thành kế hoạch năm, đơn vị tiếp tục phối hợp với nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công; làm việc với chính quyền địa phương và các bên liên quan để giải quyết vướng mắc về mặt bằng. Việc bố trí lịch cắt điện phục vụ thi công, nghiệm thu và đóng điện cũng cần được tính toán hợp lý nhằm hạn chế ảnh hưởng đến khách hàng. Đây là những công việc có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng đưa công trình vào sử dụng đúng tiến độ.

Ở góc độ phát triển công nghiệp, mỗi hạng mục lưới điện hoàn thành không chỉ bổ sung khả năng cấp điện mà còn góp phần tạo điều kiện cho nhà máy duy trì và mở rộng sản xuất. Dĩ nhiên, hạ tầng điện không phải yếu tố duy nhất quyết định sức hút đầu tư; nhưng cùng với giao thông, mặt bằng và nguồn nhân lực, đây là một điều kiện thiết yếu. Giữ vững chất lượng vận hành và thực hiện các dự án đúng tiến độ là cách ngành điện đồng hành thiết thực với nhịp tăng trưởng công nghiệp Đồng Nai.

Những tháng cuối năm 2026, Công ty Điện lực Đồng Nai tập trung rà soát kết lưới trung áp 22kV, chuyển tải và san tải giữa các xuất tuyến nhằm giảm áp lực lên đường dây, máy biến áp 110/22kV mang tải cao; tăng cường giám sát thiết bị đo đếm, kiểm soát sai số dự báo điện thương phẩm và phối hợp với khách hàng sử dụng điện an toàn, tiết kiệm, hiệu quả.

Hoàng Lân