Sử dụng xăng sinh học mang lại nhiều lợi ích
Sáng 10/4, Báo Công Thương tổ chức Tọa đàm: Xăng E10 và yêu cầu đẩy nhanh lộ trình chuyển đổi thay thế xăng khoáng.
Tham dự tọa đàm có ông Đào Duy Anh - Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương); ông Cao Tuấn Sĩ - Giám đốc Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn; bà Ngô Thuý Quỳnh - chuyên gia trong lĩnh vực năng lượng.
Tọa đàm: Xăng E10 và yêu cầu đẩy nhanh lộ trình chuyển đổi thay thế xăng khoáng. Ảnh: Ngọc Long
Việc sử dụng nhiên liệu sinh học đang là vấn đề cấp bách. Nhằm đẩy mạnh sử dụng xăng sinh học E10, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Chỉ thị 09/CT-TTg ngày 19/3/2026, trong đó nêu rõ, Bộ Công Thương rà soát các điều kiện để sớm triển khai lộ trình chuyển đổi sang nhiên liệu sinh học (E10) trong tháng 4/2026 để góp phần giảm 10% lượng tiêu thụ xăng khoáng.
Tại tọa đàm, ông Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) chia sẻ, việc thúc đẩy sử dụng xăng sinh học mang lại nhiều lợi ích.
Thứ nhất là bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí CO2 và một số loại khí gây hiệu ứng nhà kính. Theo tính toán của các nhà khoa học, cứ đốt 1 lít xăng khoáng sẽ thải ra môi trường 2,3 đến 2,5 kg CO2, như vậy, nếu chúng ta thay thế 5 - 10% nhiên liệu sinh học (ethanol-E100) cho xăng khoáng tức là sử dụng xăng E5 và E10 thì với lượng xăng tiêu thụ trung bình cả nước 12 triệu m3/năm, chúng ta đã giảm phát thải khí CO2 ra môi trường mỗi năm khoảng từ 2,5 triệu tấn. Qua đó, góp phần thực hiện mục tiêu đưa phát thải ròng CO2 về “0” vào giữa thế kỷ này như cam kết của chúng ta với cộng đồng quốc tế.
Ông Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương).
Thứ hai là phát triển ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học trong nước, từ phát triển vùng trồng cây nguyên liệu như sắn, ngô, mía tạo công việc làm, thu nhập cho người lao động chủ yếu ở các vùng sâu, vùng xa, vùng trung du, miền núi khó khăn. Đồng thời, tạo đầu ra ổn định cho các sản phẩm nông nghiệp như sắn, ngô, mía, đặc biệt là sắn hiện đang lệ thuộc rất nhiều vào tình hình xuất khẩu và hiện tượng được mùa mất giá - được giá mất mùa luôn hiện hữu, đến việc phục hồi các nhà máy sản xuất etanol đã đầu tư nhưng dừng hoạt động do không có đầu ra, tránh lãng phí nguồn lực lớn của nhà nước và xã hội.
Thứ ba là tăng nguồn nhiên liệu có khả năng tái tạo và sản xuất trong nước, giảm lệ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch ngày càng cạn kiệt và luôn tiềm ẩn nguy cơ đứt gãy nguồn cung, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, đặc biệt là khi 70% nhu cầu xăng dầu của đất nước chúng ta tính cả dầu thô cho sản xuất và xăng dầu thành phẩm hiện đang phải nhập khẩu.
Đáp ứng quy chuẩn, đảm bảo chất lượng
Ông Cao Tuấn Sĩ - Giám đốc Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn cho rằng, chính sách phối trộn xăng E10 bên cạnh ý nghĩa về mặt môi trường, đã giúp tăng thêm nguồn cung xăng dầu khi nhiên liệu sinh học chiếm tỷ lệ 10%, giúp giảm phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu bên ngoài. Điều này rất có ý nghĩa trong điều kiện hiện nay.
Song song với sử dụng xăng nhiên liệu sinh học, các nhà máy lọc hoá dầu sẽ tăng nhiên liệu sản xuất để phối trộn xăng khoáng, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng.
Ông Cao Tuấn Sĩ - Giám đốc Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn. Ảnh: Cấn Dũng
Cũng theo ông Cao Tuấn Sĩ, quá trình phối trộn nhiên liệu sinh học đòi hỏi phải hỏi cách ly với nước, độ ẩm, nên doanh nghiệp cần chuyển đổi hệ thống, cụ thể là hệ thống bồn chứa, phân phối. Vì vậy, doanh nghiệp cũng cần thời gian và có nguồn vốn đầu tư nhất định để thay đổi hệ thống, đảm bảo chất lượng trong quá trình cung cấp ra thị trường.
"Với Nhà máy lọc dầu Dung Quất, hiện chúng tôi đã triển khai giải pháp có khả năng pha chế, phân phối. Với hệ thống hiện tại, chúng tôi tự tin có thể cung ứng cho nhu cầu của khách hàng khi lộ trình chuyển đổi đi vào thực tế" - ông Cao Tuấn Sĩ nói.
Về công nghệ sản xuất, ông Cao Tuấn Sĩ cho hay, nhằm đáp ứng phối trộn nhiên liệu sinh học theo lộ trình của Chính phủ, hiện doanh nghiệp đã triển khai nhiều hạng mục. Về mặt sản xuất, doanh nghiệp đã khôi phục nhà máy chuyên sản xuất nhiên liệu sinh học, cải tạo bồn chứa để phối trộn và đảm bảo chất lượng.
Đặc biệt, hiện lượng nhiên liệu xăng sinh học sản xuất trong nước chưa cung ứng đủ nhu cầu và cần nhập khẩu, Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã đầu tư hệ thống nhập từ cầu, cảng để chuyển nhiên liệu sinh học ethanol vào nhà máy để tồn chứa, phối trộn và cải hoán lại hệ thống đáp ứng yêu cầu nghiêm ngặt hơn trong cung cấp nhiên liệu sinh học, nhằm đáp ứng yêu cầu khách hàng.
"Về hệ thống chất lượng, chúng tôi xác định đáp ứng quy chuẩn Việt Nam và thế giới, làm sao sản phẩm đưa đến tay người tiêu dùng luôn đảm bảo, đáp ứng yêu cầu của nhà nước" - ông Cao Tuấn Sĩ khẳng định.
Giải pháp cần thiết, cấp bách
Bà Ngô Thuý Quỳnh, chuyên gia trong lĩnh vực năng lượng nhấn mạnh, đẩy mạnh tiêu thụ năng lượng nhiên liệu sinh học là giải pháp cần thiết, cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Qua đó, giúp tăng nguồn cung trong nước với xăng dầu, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu xăng dầu. Điều này rất có ý nghĩa trong bối cảnh thị trường xăng dầu đang có nhiều biến động.
"Sử dụng 10% nhiên liệu sinh học góp phần đáng kể vào việc bù nguồn cung mà chúng ta đang gặp khó khăn. Hơn nữa, giá nhiên liệu sinh học ổn định sẽ giảm sốc cho giá bán lẻ xăng dầu trong nước, phù hợp mục tiêu giảm phát thải, tạo đầu ra cho nông nghiệp, hỗ trợ sinh kế cho ng nông dân" - bà Ngô Thuý Quỳnh nhận định.
Bà Ngô Thuý Quỳnh, chuyên gia trong lĩnh vực năng lượng.
Để đảm bảo triển khai hiệu quả việc đưa xăng nhiên liệu sinh học, Bộ Công Thương đã chủ động đẩy nhanh lộ trình so với Thông tư 50/2025/TT-BCT quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam.
Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả, vẫn cần sự quyết liệt của các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu và người dân. Song hành với đó là chính sách giá và thuế của nhà nước, gắn với chiến lược phát triển lâu dài để đảm bảo nguồn cung cho nhiên liệu sinh học trong giai đoạn này.
Cũng theo bà Ngô Thuý Quỳnh, việc đưa xăng sinh học vào sử dụng sẽ mở ra nhiều cơ hội ngắn hạn và dài hạn, không chỉ trong ngành năng lượng mà còn phát triển kinh tế. Cụ thể, sẽ tạo thị trường ổn định cho xăng, các nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học sẽ hoạt động hiệu quả hơn. Một số nhà máy dừng hoạt động trước đây sẽ có cơ hội để hoạt động trở lại, góp phần thúc đẩy chuỗi liên kết từ nông nghiệp, chế biến, mang lại giá trị và tạo động lực cho kinh tế nông nghiệp và kinh tế đất nước.
Việc đưa xăng sinh học vào sử dụng cũng giúp giảm được vấn nạn “được mùa rớt giá”, đồng thời nhiều địa phương có thế mạnh nhiên liệu sinh học sẽ có cơ hội phát triển, tạo công ăn việc làm cho người dân nông thôn.
Ngoài ra, thúc đẩy đổi mới công nghiệp và đầu tư xanh, chuyển dịch năng lượng và mở rộng nghiên cứu nhiên liệu sinh học thế hệ mới. Từ đó, góp phần để Việt Nam thực hiện hiệu quả các cam kết về môi trường, biến đổi khí hậu, tạo cơ hội phát triển bền vững trong tương lai.
Việc phát triển và mở rộng sử dụng nhiên liệu sinh học là xu thế tất yếu trong quá trình chuyển dịch năng lượng trên thế giới. Đặc biệt, trước những biến động khó lường của tình hình thế giới, nhất là các xung đột vũ trang và cạnh tranh địa chính trị có thể gây gián đoạn chuỗi cung ứng năng lượng, mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Chính vì vậy, Việt Nam cần chủ động đa dạng hóa các nguồn năng lượng và phát triển các nguồn năng lượng thay thế, trong đó nhiên liệu sinh học là một giải pháp quan trọng và cấp thiết.