Đóng

GDP quý III đạt 9,95%: Tăng tốc từ nội lực

GDP quý III/2026 đạt 9,95%, đưa tăng trưởng 9 tháng lên 9,01%, tạo nền tảng để Việt Nam tăng trưởng cao, nâng chất lượng kinh tế và hướng tới nâng hạng tín nhiệm vào năm 2030.

Chất lượng tăng trưởng nhìn từ nội lực

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), GDP quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,15% của quý I và 8,81% của quý II. Tính chung 9 tháng, GDP tăng 9,01%. Đằng sau mức tăng này là sự cải thiện khá đồng đều của nhiều động lực kinh tế. Sản xuất công nghiệp tiếp tục giữ vai trò quan trọng khi IIP 9 tháng tăng 12,3%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%. Đáng chú ý, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,8%, cao hơn đáng kể mức tăng cùng kỳ năm trước.

GDP quý III/2026 tăng 9,95%, đưa tăng trưởng 9 tháng lên 9,01%.

Sản xuất tăng đi cùng với tiêu thụ là tín hiệu đáng chú ý, bởi tăng sản lượng chỉ có ý nghĩa khi hàng hóa tìm được thị trường. Cùng với đó, hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục duy trì quy mô lớn. Tổng kim ngạch 9 tháng đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4%; xuất khẩu tăng 24,5%. Riêng tháng 9, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 42,4% so với cùng kỳ, cán cân thương mại xuất siêu 1,27 tỷ USD.

Những con số này cho thấy đà tăng trưởng hiện nay không chỉ đến từ một khu vực riêng lẻ mà có sự đóng góp của sản xuất, thương mại và hoạt động của doanh nghiệp. Ở khu vực doanh nghiệp, 9 tháng có hơn 223,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Khảo sát xu hướng kinh doanh ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cũng cho thấy tâm lý doanh nghiệp có phần tích cực hơn khi tỷ lệ dự báo tình hình sản xuất, kinh doanh quý IV tốt lên cao hơn quý III.

Từ thực tế hoạt động sản xuất, kinh doanh, trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Mai Duy Trung, Giám đốc Công ty TNHH Công nghiệp Thái Sơn, cho biết doanh nghiệp đã hoàn thành mục tiêu năm 2026 và đang chuẩn bị kế hoạch cho năm 2027, với mục tiêu doanh thu tăng 20%. Theo ông Trung, quy mô vừa và nhỏ từng khiến doanh nghiệp bỏ lỡ một số cơ hội khi nhu cầu thị trường vượt khả năng đáp ứng. Đây cũng là bài học để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư, thay đổi tư duy và nâng cao năng lực.

“Muốn doanh nghiệp phát triển thì bắt buộc chúng ta phải tiếp tục phát triển”, ông Trung nói, đồng thời cho rằng doanh nghiệp cần ứng dụng công nghệ và tăng cường kết nối thông qua các hiệp hội, đội nhóm để tiếp cận những nhu cầu lớn hơn.

"Các chính sách về thuế và hỗ trợ doanh nghiệp thời gian qua nhìn chung phù hợp với thực tế. Cải cách thủ tục góp phần giảm bớt chi phí tuân thủ, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải chủ động thích ứng với những thay đổi của môi trường kinh doanh", ông Nguyễn Hữu Quyết, Giám đốc Công ty CP Perso, chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương.

Về Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, ông Quyết cho rằng cơ hội từ dòng vốn FDI không chỉ nằm ở việc thu hút thêm dự án, mà quan trọng hơn là khả năng để doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Việc thu hút FDI chất lượng cao, nhất là các dự án công nghệ cao và sản xuất dài hạn, có thể mở thêm cơ hội để doanh nghiệp trong nước nâng chuẩn sản phẩm, công nghệ và phương thức quản trị. Tuy nhiên, cơ hội chỉ trở thành năng lực thực tế khi doanh nghiệp trong nước đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư và khách hàng quốc tế.

Thực tế, chuỗi cung ứng tại Việt Nam đã mở rộng, song dư địa để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vẫn còn lớn. “Đây trước hết là nỗ lực nội tại của chính các doanh nghiệp Việt Nam”, ông Quyết nhấn mạnh, đồng thời cho rằng doanh nghiệp cần tăng cường liên kết, đổi mới công nghệ, nâng chất lượng sản phẩm và từng bước tham gia trực tiếp hơn vào chuỗi cung ứng.

Ở góc độ rộng hơn, trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, chuyên gia kinh tế, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, cho rằng Việt Nam đang là một trong những trung tâm sản xuất, chế tạo của khu vực. Khoảng 80% vốn FDI tập trung vào công nghiệp nên diễn biến của khu vực này có tác động lớn đến tăng trưởng chung. Điểm đáng chú ý, theo ông Lạng, là sản xuất tăng cùng với tiêu thụ. Nếu hàng hóa sản xuất ra không được thị trường hấp thụ, tồn kho tăng cao thì sản xuất khó có thể duy trì tốc độ tăng trưởng như hiện nay.

“Năng lực sản xuất, chế tạo của Việt Nam ngày càng được nâng lên. Doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI có khả năng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng, trong khi cơ cấu công nghiệp đang chuyển theo hướng công nghệ cao, xanh và số hóa”, ông Lạng phân tích.

Theo chuyên gia này, khi doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào những phân khúc có giá trị gia tăng cao, hiệu quả của tăng trưởng công nghiệp sẽ không chỉ được đo bằng quy mô sản xuất. “Công nghiệp vẫn là xương sống và trụ cột quan trọng của nền kinh tế”, ông Lạng nhận định.

Từ tăng trưởng cao đến vị thế cao hơn

Nhìn từ kết quả 9 tháng với mức tăng trưởng 9,01% cho thấy nền kinh tế không chỉ tăng về quy mô mà đang có những chuyển động theo hướng nâng cao năng lực sản xuất, mở rộng thị trường và cải thiện khả năng đáp ứng của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tăng trưởng cao cũng đặt ra một yêu cầu lớn hơn, đó là làm thế nào để phần năng lực được tích lũy trong quá trình tăng trưởng ngày càng lớn hơn chính tốc độ tăng trưởng? Câu hỏi về chất lượng tăng trưởng GDP càng có ý nghĩa khi Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số trong giai đoạn tới và đồng thời hướng tới cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia trên thị trường quốc tế. 

Nhà máy thức ăn chăn nuôi Japfa xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ.

Theo Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia đến năm 2030, được sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số 1919/QĐ-TTg ngày 2/10/2026, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hoàn thiện thể chế theo hướng cạnh tranh, hiệu lực, hiệu quả; phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong đó, mục tiêu cụ thể là nâng mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên từ Baa3 của Moody’s hoặc BBB- của S&P và Fitch trở lên vào năm 2030.

Đáng chú ý, mục tiêu nâng hạng được đặt trong một tổng thể rộng hơn, bao gồm tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, GDP bình quân đầu người khoảng 8.500 USD vào năm 2030, đồng thời tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.

Điều này cho thấy tăng trưởng và nâng hạng tín nhiệm không phải hai câu chuyện tách rời. Một nền kinh tế muốn có vị thế tín nhiệm cao hơn không chỉ cần tốc độ tăng trưởng tốt, mà còn phải chứng minh được khả năng duy trì tăng trưởng, kiểm soát các cân đối lớn, nâng cao năng lực chống chịu và tạo dựng môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch, có khả năng dự đoán.

Chính sách tài khóa vì vậy được định hướng chủ động, linh hoạt nhưng thận trọng, hài hòa giữa hỗ trợ tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô. Đầu tư công tập trung vào các dự án trọng điểm, có sức lan tỏa; tín dụng hướng vào sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, đồng thời kiểm soát rủi ro. Việt Nam cũng đặt yêu cầu nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài thông qua đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, chuỗi cung ứng và đối tác đầu tư; củng cố an ninh năng lượng, phát triển hạ tầng và nâng cao năng lực dự trữ.

Theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, chính sách thời gian qua đã tác động đồng thời đến cả cung và cầu, tạo điều kiện cho những doanh nghiệp có năng lực mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách cần thời gian để đánh giá đầy đủ. Điều quan trọng, theo ông, là môi trường chính sách ngày càng ổn định, minh bạch và có khả năng dự đoán để doanh nghiệp, nhà đầu tư chủ động xây dựng kế hoạch dài hạn.

Mức tăng GDP 9,95% trong quý III là một kết quả đáng ghi nhận, nhất là khi đà tăng được hỗ trợ bởi sản xuất, tiêu thụ, thương mại và hoạt động của doanh nghiệp. Đây là cơ sở để kỳ vọng vào một năm tăng trưởng cao hơn. Nhưng giá trị của một con số tăng trưởng không chỉ nằm ở tốc độ. Quan trọng hơn là sau mỗi nhịp tăng, nền kinh tế có thêm doanh nghiệp mạnh hơn, công nghệ tốt hơn, năng lực sản xuất cao hơn, chuỗi cung ứng sâu hơn và khả năng chống chịu tốt hơn. Đó cũng là nền tảng để Việt Nam không chỉ hướng tới tăng trưởng cao, mà còn hướng tới chất lượng tăng trưởng cao hơn và vị thế tín nhiệm cao hơn trên thị trường quốc tế.

Từ mức tăng 9,95% của một quý, bài toán lớn hơn vì thế là biến sức bật hiện tại thành nội lực đủ mạnh để tăng trưởng nhanh, tăng trưởng bền vững và tạo dựng niềm tin dài hạn với nhà đầu tư trong nước và quốc tế.

Nguyễn Hạnh