Di dời di tích nhìn từ kinh nghiệm quốc tế
Hiến chương Quốc tế về Bảo tồn và Trùng tu Di tích và Di chỉ (Hiến chương Venice) được thông qua năm 1964. Đến nay, văn kiện này vẫn là một trong những cơ sở tham chiếu quan trọng của giới bảo tồn di sản quốc tế. Điều 7 của Hiến chương xác lập nguyên tắc: "Một di tích không thể tách rời khỏi lịch sử mà nó làm chứng và khỏi bối cảnh nơi nó tồn tại. Việc di chuyển toàn bộ hoặc một phần di tích không được phép, trừ trường hợp việc bảo vệ chính di tích đó đòi hỏi phải di chuyển hoặc việc di chuyển được biện minh bởi lợi ích quốc gia hoặc quốc tế có tầm quan trọng đặc biệt".
Theo quy định này, Hiến chương không cấm tuyệt đối việc di dời, đồng thời đặt ra hai trường hợp ngoại lệ và yêu cầu bên đề xuất di dời phải chứng minh được lý do thuộc ít nhất một trong hai trường hợp đó.
Điều 6 của Hiến chương đặt thêm yêu cầu: "Việc bảo tồn một di tích bao hàm việc bảo tồn một không gian bao quanh có quy mô tương xứng với di tích. Khi bối cảnh truyền thống vẫn còn tồn tại thì phải được bảo tồn. Không được phép xây dựng mới, phá dỡ hoặc thay đổi làm biến đổi mối quan hệ về khối tích và màu sắc".
Theo Điều 6, việc dựng một cụm tượng đài trong khuôn viên đền chùa cổ chính là điều Hiến chương khuyến cáo không nên làm, đặt ra yêu cầu xem xét lại sự hài hòa giữa công trình tưởng niệm và bối cảnh truyền thống của di tích. Nếu việc di chuyển tượng đài giúp khôi phục không gian phù hợp hơn thì đó là phương án cần được xem xét trên cơ sở khoa học và yêu cầu bảo tồn. Cùng đó, vị trí mới của tượng đài phải bảo đảm sự trang nghiêm, phù hợp với giá trị lịch sử và tạo điều kiện để công trình tiếp tục phát huy ý nghĩa giáo dục.
Bên cạnh Hiến chương Venice năm 1964, giới bảo tồn còn sử dụng một văn kiện quan trọng khác, đó là Văn kiện Nara về tính xác thực (Nara Document on Authenticity) được thông qua vào tháng 11/1994 tại hội thảo quốc tế tổ chức ở Nara, Nhật Bản. Nếu Hiến chương Venice đặt trọng tâm vào việc gìn giữ vật chất gốc và bối cảnh nguyên bản của di tích thì Văn kiện Nara mở rộng cách tiếp cận đối với tính chân thực của di sản. Theo đó, giá trị của một di sản có thể được nhận diện qua nhiều yếu tố như hình thức, vật liệu, kỹ thuật, chức năng, truyền thống, tinh thần và cảm thức về nơi chốn.
Đặt trong cách tiếp cận này, giá trị của tượng đài "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" bên đền Bà Kiệu gắn với thông điệp lịch sử mà công trình chuyển tải, với ký ức về cuộc chiến đấu bảo vệ Thủ đô và với cộng đồng kế tục truyền thống đó. Vì vậy, khi xem xét phương án di chuyển, câu hỏi quan trọng là vị trí mới có tiếp tục bảo đảm mối liên hệ giữa công trình với lịch sử, cộng đồng và ý nghĩa biểu tượng hay không.
Thực tiễn bảo tồn tại châu Á cũng từng đặt hai văn kiện này cạnh nhau khi xử lý những trường hợp di dời di tích. Khi Trung Quốc xây dựng đập Tam Hiệp, miếu Trương Phi ở Vân Dương phải di chuyển để tránh khu vực ngập nước. Trong các năm 2002, 2003, cụm kiến trúc thời Thanh được chuyển khoảng 32 km ngược dòng Trường Giang. Công trình gồm 1.604 m² kiến trúc cổ, khoảng 100.000 cấu kiện, 178 bia đá, 193 hiện vật chạm khắc gỗ và 43 pho tượng. Chi phí di dời khoảng 70 triệu nhân dân tệ.
Một nghiên cứu về trường hợp này tập trung phân tích tính chân thực của di tích sau khi thay đổi vị trí và cùng viện dẫn Hiến chương Venice năm 1964 cùng Văn kiện Nara năm 1994. Điều đó thể hiện cách giới chuyên môn sử dụng các nguyên tắc quốc tế để đánh giá việc di dời trên nhiều phương diện, từ vật chất, kỹ thuật đến bối cảnh lịch sử và giá trị tinh thần.
Với TP. Hà Nội, vấn đề đang được đặt ra là vị trí của công trình. Lời thề "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" của quân và dân Thủ đô mùa đông năm 1946 là một phần của lịch sử. Điều cần cân nhắc là di dời đúng luật, đúng thực tế lịch sử, đúng đạo lý truyền thống và lựa chọn đúng không gian nào để tượng đài tiếp tục chuyển tải đầy đủ giá trị đó và phát huy tốt hơn ý nghĩa giáo dục.
Những cuộc di dời trong đồng thuận
Chiến dịch quốc tế cứu các di tích vùng Nubia được xem là một trong những trường hợp tiêu biểu nhất thế giới về di dời di sản để phục vụ một công trình phát triển quy mô lớn. Khi Ai Cập xây dựng đập Aswan, nhiều di tích cổ tại Nubia đứng trước nguy cơ chìm dưới nước. Theo tài liệu của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), chiến dịch cứu di sản kéo dài từ năm 1960 - 1980.
Trong 20 năm, các bên tham gia đã cứu và di dời 22 di tích với tổng chi phí khoảng 80 triệu USD. Chiến dịch quốc tế huy động được 40 triệu USD, Ai Cập và các nguồn khác chi trả phần kinh phí còn lại. Có 50 quốc gia đóng góp tài chính và 7 nước hỗ trợ kỹ thuật.
Đền Abu Simbel của Ramesses II tại vị trí mới, sau khi được cắt rời và lắp lại ở cao trình cao hơn.
Mô hình trưng bày tại chỗ tái hiện cách ngôi đền được cắt khối và chuyển lên vị trí mới.
Đền Abu Simbel của Ramesses II được cắt thành từng khối lớn, di chuyển lên vị trí cao hơn rồi lắp dựng lại để tránh nguy cơ ngập nước. Hơn nửa thế kỷ sau, công trình này vẫn được xem là một dấu mốc tiêu biểu của ngành bảo tồn di sản thế giới. Chiến dịch cứu các di tích Nubia cũng góp phần thúc đẩy sự ra đời của Công ước Di sản Thế giới năm 1972.
Từ trường hợp Nubia có thể thấy, cộng đồng quốc tế chấp nhận việc di dời di sản khi một công trình phát triển có tầm vóc quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết. Điều kiện đi kèm là quá trình di dời phải được chuẩn bị bài bản, dựa trên hồ sơ khoa học, giải pháp kỹ thuật chặt chẽ và đạt được sự đồng thuận rộng rãi.
Trong chiến dịch cứu các di tích Nubia, đền Kalabsha là một trường hợp đặc biệt. Công trình này trả lời trực tiếp câu hỏi thường đặt ra khi bàn về di dời di sản: sau khi chuyển khỏi vị trí cũ, giá trị của di tích còn được bảo toàn hay không?
Đền Kalabsha ở Ai Cập là ngôi đền độc lập lớn nhất vùng Hạ Nubia, được xây dựng từ thời vị hoàng đế La Mã đầu tiên. Theo tài liệu của UNESCO, từ năm 1961 - 1963, các chuyên gia tháo dỡ, di chuyển và dựng lại ngôi đền tại vị trí mới.
Công trình gồm khoảng 1.600 khối sa thạch, trong đó khối nặng nhất lên tới 20 tấn. Việc dựng lại bắt đầu vào tháng 10/1962. Đến tháng 10/1963, khối đá cuối cùng được đặt vào vị trí. Thời điểm đó, Cộng hòa Liên bang Đức đảm nhận toàn bộ phần kỹ thuật và tài chính cho quá trình di dời.
Đền Kalabsha ở vị trí cũ, ảnh tư liệu thế kỷ 19 lưu tại Bảo tàng Ai Cập Turin.
Đền Kalabsha ở vị trí cũ, ảnh tư liệu thế kỷ 19 lưu tại Bảo tàng Ai Cập Turin
Theo cổng thông tin của Bộ Du lịch và Cổ vật Ai Cập, quần thể các di tích Nubia từ Abu Simbel tới Philae, trong đó có các công trình hiện nằm trên đảo New Kalabsha được UNESCO ghi vào Danh mục Di sản Thế giới năm 1979.
Như vậy, 16 năm sau khi hoàn tất việc di dời, Kalabsha vẫn được UNESCO công nhận trong quần thể Di sản Thế giới Nubia. Một ngôi đền từng được tháo thành khoảng 1.600 khối đá rồi dựng lại trên một hòn đảo khác vẫn trở thành một phần của Di sản. Điều này khẳng định giá trị của một di tích không mặc nhiên mất đi khi công trình thay đổi vị trí, điều quyết định nằm ở cách bảo tồn, kỹ thuật di chuyển, chất lượng phục dựng và khả năng gìn giữ những giá trị lịch sử vốn có của công trình.
Nơi đến xứng đáng
Khải hoàn môn Wellington ở London là một trường hợp có nhiều điểm tương đồng nên được quan tâm. Theo English Heritage, đơn vị quản lý công trình, Khải hoàn môn Wellington được xây dựng từ năm 1825 - 1827. Năm 1880, London quy hoạch một tuyến đường mới đi qua khu vực giữa phố Piccadilly và Grosvenor Place. Đến tháng 2/1883, người Anh tháo dỡ khải hoàn môn, chuyển công trình tới vị trí mới ở đầu Constitution Hill và xoay mặt cổng về hướng Tây. Việc di chuyển đồng thời góp phần giải quyết áp lực giao thông tại nút Hyde Park Corner.
Bức tượng kỵ mã của Matthew Cotes Wyatt tại Aldershot, nơi tác phẩm được dựng lại sau khi rời đỉnh Khải hoàn môn Wellington.
Bức tượng kỵ mã khổng lồ của nhà điêu khắc Matthew Cotes Wyatt vốn đặt trên đỉnh khải hoàn môn, không được đưa trở lại sau khi công trình chuyển vị trí. Khi đó từng xuất hiện đề xuất nấu chảy bức tượng nhưng phương án này bị bác bỏ. Sau đó, người Anh dựng tượng trên một bệ mới gần Nhà thờ Garrison tại Aldershot, một thị trấn gắn với quân đội Anh. Bức tượng vẫn hiện diện tại đây đến nay.
Như vậy, từ năm 1883, nước Anh đã đưa một tác phẩm điêu khắc lịch sử từ trung tâm London tới một khu vực quân sự trong quá trình điều chỉnh quy hoạch giao thông. Sau 143 năm, Khải hoàn môn Wellington vẫn là một địa danh quen thuộc của London. Việc thay đổi vị trí không làm mất đi ký ức lịch sử gắn với Công tước Wellington.
Marble Arch tại Cumberland Gate, công viên Hyde Park, vị trí công trình được chuyển tới từ năm 1851.
Cách đó không xa, Marble Arch cũng từng được di chuyển. Theo Hội đồng thành phố Westminster, công trình được chuyển vị trí năm 1851 theo đề nghị của Nữ hoàng Victoria trong quá trình mở rộng Cung điện Buckingham. Từ vị trí cổng vào cung điện, Marble Arch được đưa tới Cumberland Gate của công viên Hyde Park và trở thành một công trình nghi lễ tại địa điểm mới. Ngày nay, Marble Arch là một trong những địa danh quen thuộc của London.
Hai trường hợp tại London khẳng định việc thay đổi vị trí một công trình lịch sử không đồng nghĩa với xóa bỏ giá trị của công trình. Yếu tố quyết định nằm ở nơi tiếp nhận, phương án bảo tồn và khả năng duy trì mối liên hệ của công trình với đời sống xã hội.
Cột Chiến thắng Berlin tại Großer Stern, vị trí được chuyển tới năm 1939 và được nâng thêm 6,5 m.
Tại Berlin, Đức, Cột Chiến thắng cũng từng được di chuyển trong quá trình quy hoạch lại trung tâm thành phố. Công trình khánh thành năm 1873 tại Königsplatz. Năm 1938, người Đức tháo dỡ cột và đến năm 1939 dựng lại tại Großer Stern.
Theo tài liệu của Sở Quy hoạch đô thị Berlin, khi dựng lại công trình, người Đức bổ sung một tang trống cao 6,5 m, nâng tổng chiều cao từ 60,5 m lên gần 67 m. Cột Chiến thắng vẫn đứng tại Großer Stern đến nay và trở thành một trong những công trình gắn với hình ảnh Berlin.
Sửa lại quá khứ
Cổng Gwanghwamun ở Seoul, Hàn Quốc kể một câu chuyện khác về cách một quốc gia xử lý những can thiệp sai lệch đối với di sản. Thời thuộc địa Nhật Bản, cổng chính của cung Gyeongbokgung bị dời khỏi vị trí gốc sau khi toà nhà Phủ Toàn quyền được dựng lên. Một lần phục dựng sau đó dùng bê tông thay vì vật liệu truyền thống và đặt cổng lệch hướng so với trục lịch sử.
Năm 2006, Hàn Quốc triển khai dự án phục dựng quy mô lớn, các chuyên gia tháo dỡ công trình, đưa cổng trở lại đúng vị trí và đúng hướng ban đầu rồi phục dựng bằng gỗ theo hình thức truyền thống. Sau 4 năm thực hiện, công trình hoàn thành và mở cửa trở lại ngày 15/8/2010, đúng dịp Ngày Quang phục của Hàn Quốc.
Cổng Gwanghwamun ở Seoul sau khi được phục dựng và trả lại đúng trục lịch sử.
Trường hợp Gwanghwamun là minh chứng điều chỉnh lại vị trí và hướng của một công trình từng bị đặt sai có thể trở thành một phần của quá trình phục hồi giá trị lịch sử. Hàn Quốc dành 4 năm để đưa cổng trở về đúng vị trí, đúng trục kiến trúc nguyên gốc và lựa chọn Ngày Quang phục để mở cửa công trình trở lại. Thông điệp từ cách làm này khá rõ: tôn trọng lịch sử không đồng nghĩa với giữ nguyên mọi dấu vết của những lần can thiệp trước đó. Khi có đủ căn cứ khoa học, việc đưa một công trình trở về vị trí phù hợp hơn với lịch sử cũng là một cách gìn giữ di sản.
Bài học khủng hoảng truyền thông và sự lắng nghe, tiếp thu dư luận
Ngày 27/4/2007, Chính phủ Estonia di dời tượng Chiến sĩ Đồng, một tượng đài chiến tranh thời Liên Xô từ trung tâm Tallinn về Nghĩa trang Quân đội Garrison. Theo tài liệu do Bộ Ngoại giao Estonia công bố, hơn 1.000 người đã tập trung tại khu vực tượng đài. Bạo loạn sau đó lan ra nhiều nơi ở Tallinn khiến hơn 153 người bị thương và 1 người thiệt mạng. Nhiều cửa hàng tại Tallinn cùng các khu vực lân cận bị cướp phá, 1 bức tượng tướng lĩnh Estonia cũng bị đốt.
Tượng Chiến sĩ Đồng tại vị trí mới trong Nghĩa trang Quân đội Garrison ở Tallinn.
Trường hợp Tallinn là một bài học về nguy cơ khủng hoảng khi xã hội chưa tìm được tiếng nói chung đối với ký ức lịch sử. Tượng Chiến sĩ Đồng vốn là tâm điểm của những cách nhìn đối lập giữa các cộng đồng, cùng một pho tượng nhưng mỗi bên gắn với một cách lý giải khác nhau. Chính quyền Estonia tiến hành di dời khi những bất đồng đó chưa được giải quyết, vì vậy phản ứng xã hội bùng phát từ những mâu thuẫn về ký ức lịch sử đã tồn tại từ trước và chưa tìm được tiếng nói chung.
Sự khác biệt với câu chuyện ở Hà Nội nằm ở nền tảng nhận thức về giá trị biểu tượng. Tượng đài "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" gắn với ký ức về cuộc chiến đấu bảo vệ Thủ đô mùa đông năm 1946 và được trân trọng như một biểu tượng lịch sử. Việc bàn về vị trí của tượng đài hiện nay hướng tới mục tiêu gìn giữ và phát huy giá trị đó, nơi dự kiến tiếp nhận cũng gắn trực tiếp với lực lượng kế tục truyền thống mà công trình biểu đạt.
Tuy vậy, bài học từ Tallinn vẫn còn nguyên giá trị, chủ trương dù có căn cứ vẫn cần được giải thích đầy đủ, công khai phương án và tạo điều kiện để xã hội hiểu rõ mục tiêu của việc di dời. Trở lại với câu chuyện Hà Nội, từ chỗ phương án ban đầu có vẻ "chốt" một địa điểm di dời tượng đài, thông báo kết luận cuộc họp của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội sáng qua cho thấy Thành ủy đã lắng nghe và tiếp thu những ý kiến góp ý của dư luận, bao gồm cả những ý kiến chưa đồng tình, cả những ý kiến khác nhau. Ban Thường vụ Thành ủy giao Đảng ủy UBND Thành phố lãnh đạo UBND Thành phố nghiên cứu kĩ để có phương án triển khai phù hợp. Về thời điểm thực hiện, Ban Thường vụ Thành ủy lưu ý lựa chọn thời điểm di chuyển Tượng đài sau khi thực hiện công bố thông tin quy hoạch khu vực Hồ Hoàn Kiếm và hoàn thiện cơ sở vật chất nơi đặt Tượng đài. Đối với địa điểm mới, Ban Thường vụ Thành ủy yêu cầu nghiên cứu các ý kiến góp ý về địa điểm mới đặt Tượng đài, bảo đảm tương xứng với giá trị lịch sử, văn hóa và ý nghĩa của công trình. Địa điểm mới cần có không gian trang nghiêm, thuận lợi cho Nhân dân và du khách tham quan, tiếp cận; qua đó, phát huy tốt giá trị giáo dục truyền thống, tôn vinh tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Và quan trọng nhất, phương án sẽ được báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định trước khi triển khai thực hiện chứ không thể vội vàng, chưa thấu tình đạt lý. Điều đó cho thấy, giống như kinh nghiệm quốc tế, thông tin được cung cấp kịp thời, đối thoại được thực hiện thấu đáo và các phương án được làm rõ, đồng thuận xã hội sẽ trở thành nền tảng quan trọng để một quyết định liên quan đến ký ức lịch sử được triển khai thuận lợi.
Chuyện chọn chỗ đặt tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” sau khi rời đền Bà Kiệu quy về một câu hỏi: ai mới là người kế thừa hợp lý?
Lực lượng vũ trang Thủ đô có mạch tiếp nối lịch sử thật, không phải gán ghép. Ngày 19/10/1946, Trung ương Đảng quyết định thành lập Chiến khu XI. Đó chính là Ngày truyền thống của lực lượng vũ trang Thủ đô Hà Nội cho tới hôm nay. Trung đoàn Liên khu I, đơn vị được Hội nghị quân sự toàn quốc ngày 12/1/1947 tặng danh hiệu Trung đoàn Thủ Đô, ra đời ngày 6/1/1947 trong đội hình Chiến khu XI. Qua nhiều lần đổi tên, tổ chức ấy hôm nay là Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, tức cấp đã sinh ra Trung đoàn Thủ đô vẫn đang hiện diện.
Trung đoàn 692 cũng có mạch riêng gắn trực tiếp với Bác Hồ. Tiền thân là Tiểu đoàn 12 thuộc Trung đoàn 600, Đại đoàn 350 Công an nhân dân vũ trang, lập năm 1954, làm nhiệm vụ bảo vệ Trung ương Đảng, Chính phủ cùng Bác Hồ từ Việt Bắc trở về Hà Nội. Đơn vị được đón Bác về thăm, được Người đặt danh hiệu Đoàn Thanh Xuyên kèm lời căn dặn đừng sa ngã trước những viên đạn bọc đường, nay còn treo ở nhà truyền thống Trung đoàn. Nếu Trung đoàn Thủ đô là đơn vị giữ Hà Nội sáu mươi ngày đêm rồi rút đi, thì tiền thân Trung đoàn 692 là đơn vị hộ tống Bác cùng Trung ương trở về. Hai vế của cùng một câu chuyện chín năm.
Nhưng tiếp nối truyền thống không đồng nghĩa với trực hệ. Chú thích Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5 ghi rõ Trung đoàn Thủ đô còn gọi là Trung đoàn 102, thuộc Sư đoàn 308. Phiên hiệu ấy vẫn do một đơn vị đang tồn tại mang, nên nói Trung đoàn 692 kế tục phiên hiệu ấy là không chính xác. Trung đoàn 692 kế thừa theo địa bàn cùng hệ thống, không theo trực hệ đơn vị. Sự phân biệt này không hạ thấp ai. Nó chỉ nhắc rằng lý do chọn nơi đến nên đặt trên tiêu chí phát huy giá trị chứ không phải Trung đoàn tiền thân trực tiếp 60 ngày đêm lịch sử.
Khi tiếp cận hướng đó, câu hỏi thành nơi nào phát huy giá trị công trình tốt nhất. Ở tiêu chí ấy, không chỉ các đơn vị như Trung đoàn 692 mà Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam có điều kiện đáng cân nhắc. Bảo tàng rộng 38,66 hecta trên Đại lộ Thăng Long, lưu giữ hơn 150.000 hiện vật cùng 04 bảo vật quốc gia, tới tháng 6/2026 đã đón gần 4 triệu lượt khách. Quan trọng hơn con số ấy, giai đoạn 2 đang triển khai đã quy hoạch sẵn một không gian nghệ thuật điêu khắc ngoài trời khoảng 15.000 mét vuông. Cụm tượng nếu về đây không phải chen vào khu trưng bày vũ khí, cũng không đòi hỏi lập thiết chế mới, mà được bố trí vị trí xứng đáng ngay từ khâu thiết kế. Tại cơ sở cũ ở 28A Điện Biên Phủ, bảo tàng từng trưng bày tác phẩm điêu khắc quyết tử quân Nguyễn Văn Thiềng ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch. Hình tượng cảm tử quân Thủ đô vốn đã nằm sẵn trong mạch nội dung nơi này.
Cách làm ấy phù hợp thông lệ quốc tế. Bảo tàng quân sự quốc gia có tượng đài trong khuôn viên là chuyện phổ biến: Đài tưởng niệm Chiến tranh Úc tại Canberra mở Vườn Điêu khắc từ tháng 1/1999, Bảo tàng Chiến tranh Hàn Quốc ở Seoul có cả tổ hợp tưởng niệm ngoài trời. Tiền lệ chuyển một tượng đài đang được tôn vinh về cạnh bảo tàng quân sự cũng đã có. Năm 2009, tượng Thống chế Earl Haig dựng năm 1923 được chuyển khỏi khu Esplanade của Lâu đài Edinburgh tới cạnh Bảo tàng Chiến tranh Quốc gia Scotland, với lập luận chính thức rằng chỗ mới vừa bảo vệ vừa thúc đẩy giá trị của tượng. Ngay tại Canberra, tượng Australian Serviceman từng rời Sảnh Ký ức để nhường chỗ cho Mộ Chiến sĩ vô danh, rồi thành tác phẩm đầu tiên của Vườn Điêu khắc mà vẫn nguyên vị thế biểu tượng.
Đó cũng chính là điều bốn yêu cầu của Ban Thường vụ Thành uỷ Hà Nội nêu ngày 22/8/2026 hướng tới: trang nghiêm, thuận lợi cho nhân dân tiếp cận, tương xứng giá trị lịch sử và phát huy chức năng giáo dục truyền thống.
Lịch sử là hành trang
Khi bàn về việc di chuyển một công trình tưởng niệm, điều khiến nhiều người băn khoăn thường không nằm ở kỹ thuật. Câu hỏi lớn hơn là liệu công trình rời khỏi vị trí cũ có làm mất đi ý nghĩa tinh thần và sự thiêng liêng đã được bồi đắp qua thời gian hay không. Câu chuyện nhà thờ Emmaus ở Đức là một trường hợp đáng tham khảo.
Làng Heuersdorf ở miền Trung nước Đức nằm trong khu vực phải giải tỏa để khai thác mỏ than lộ thiên. Tại đây có nhà thờ Emmaus, một nhà thờ phòng thủ thời Trung cổ với những bức tường khoảng 750 năm tuổi. Theo cam kết trong hợp đồng, doanh nghiệp khai thác than phải bảo toàn công trình di sản này.
Nhà thờ Emmaus tại Borna, nơi công trình 750 tuổi được đặt lại sau hành trình 12 km.
Tháng 10/2007, các kỹ sư chuyển nguyên khối nhà thờ Emmaus từ Heuersdorf tới thành phố Borna, cách đó 12 km mà không tháo rời công trình. Hành trình bắt đầu ngày 23/10 và kết thúc ngày 31/10, đúng vào Ngày lễ Cải cách.
Theo tư liệu về cuộc di dời, nhà thờ nặng 665 tấn, dài 14,5 m, rộng 8,9 m và cao 19,6 m. Trước khi di chuyển, đội kỹ thuật khoan 1.800 lỗ để bơm vật liệu gia cố tường đồng thời siết 5 đai thép quanh công trình. Tại đoạn đường hẹp nhất, khoảng cách giữa nhà thờ và công trình hai bên chỉ còn khoảng 2 cm. Toàn bộ cuộc di dời tiêu tốn khoảng 3 triệu euro.
Những con số này phản ánh quy mô và độ phức tạp của một cuộc di dời hiếm có. Tuy nhiên, cách người Đức gìn giữ đời sống tinh thần của công trình mới là chi tiết mang nhiều ý nghĩa. Sau thánh lễ cuối cùng tại Heuersdorf, nhà thờ được chuyển đi trong trạng thái vẫn giữ chức năng là nơi thờ phụng. Công trình sau đó được phục hồi tại Borna và mở cửa trở lại vào lễ Phục sinh năm 2008. Nhà thờ thay đổi vị trí nhưng hoạt động tín ngưỡng và mối liên hệ của cộng đồng với công trình vẫn được duy trì, vì vậy giá trị tinh thần tiếp tục được gìn giữ tại nơi ở mới.
Cách người Đức tổ chức cuộc di dời cũng thể hiện thái độ trân trọng đối với di sản. Trong những mét cuối cùng của hành trình, Thủ hiến bang trực tiếp điều khiển phương tiện chuyên dụng đưa nhà thờ vào vị trí mới. Vì thế, cuộc di dời được thực hiện như một sự kiện có ý nghĩa với cộng đồng thay vì một công việc kỹ thuật cần hoàn thành cho xong.
Tiền lệ Việt Nam
Không cần đi quá xa để tìm một trường hợp tương tự. Tháng 11/2023, TP. Vũng Tàu cũ (nay là TP. Hồ Chí Minh) bắt đầu di dời tượng đài Dầu khí tại nút giao đường 2/9 và Nguyễn An Ninh về công viên tam giác Ẹo Ông Từ.
Tượng đài được khánh thành năm 2010, do Liên doanh Việt Nga Vietsovpetro làm chủ đầu tư. Công trình có biểu tượng ngọn lửa bằng bê tông cao 7,3 m, bệ hình mũi tàu ghép từ 150 khối đá hoa cương, tổng chiều cao 24,5 m và đường kính 40 m. Thành phố quyết định di dời nhằm giải quyết tình trạng ùn tắc giao thông kéo dài tại nút giao. Kinh phí dự kiến khoảng 38 tỷ đồng.
Cách Vũng Tàu triển khai có 3 điểm có thể tham khảo. Tại vị trí mới, thành phố giữ nguyên quy mô kiến trúc của tượng đài với đường kính 40 m. Nơi tiếp nhận là một công viên công cộng, bảo đảm khả năng tiếp cận của người dân.
Thành phố cũng công khai phương án từng được đề xuất nhưng không lựa chọn. Trước đó, Sở Giao thông Vận tải tỉnh đề xuất xây hầm chui với kinh phí khoảng 500 tỷ đồng để giữ nguyên tượng đài tại vị trí cũ. Sau nhiều cuộc họp, phương án này không được chấp thuận vì không phù hợp.
Việc công khai cả phương án được chọn, phương án bị loại và lý do lựa chọn giúp người dân có thêm căn cứ để hiểu quá trình ra quyết định. Với những công trình gắn với ký ức cộng đồng, sự minh bạch đó có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo đồng thuận xã hội.
Từ Abu Simbel, Wellington, Gwanghwamun đến các trường hợp trong nước, một nguyên tắc xuyên suốt có thể nhận diện: nơi tiếp nhận một công trình lịch sử không trở thành chủ sở hữu ký ức mà công trình đại diện.
Đền Abu Simbel thuộc về Ai Cập và là một phần di sản của nhân loại, dù hàng chục quốc gia đã cùng tham gia chiến dịch cứu hộ. Bức tượng kỵ mã tại Aldershot vẫn là một phần ký ức lịch sử của nước Anh dù hiện diện trong một khu vực gắn với quân đội. Cổng Gwanghwamun mang ý nghĩa đối với cả Hàn Quốc nên thời điểm mở cửa trở lại cũng được lựa chọn vào Ngày Quang phục.
Tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” tại khuôn viên Di tích quốc gia đền Bà Kiệu, phía Đông hồ Hoàn Kiếm.
Câu chuyện Hà Nội cũng cần được nhìn trong tinh thần này. Tượng đài "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" bên đền Bà Kiệu mang giá trị vượt ra ngoài phạm vi của lực lượng vũ trang và nhân dân Thủ đô. Công trình gắn với ký ức lịch sử của cả dân tộc và mang giá trị văn hóa lâu dài.
Trong bài viết đăng ngày 13/12/2006, Báo Quân đội nhân dân dẫn nhận định của tác giả Dương Xuân Đống - nhà nghiên cứu văn hóa quân sự rằng lời thề quyết tử trong thời gian và không gian lịch sử đó "đã bao hàm, đã trở thành một biểu tượng của Thủ đô chúng ta, đồng thời cũng trở thành biểu tượng của cả nước đánh giặc khi bước vào cuộc chiến tranh giải phóng lần thứ nhất". Vì vậy, cơ quan đề xuất và cơ quan tiếp nhận công trình mang trách nhiệm gìn giữ và phát huy giá trị chung đó. Việc quyết định di dời hay không hay chọn vị trí mới nào cần bảo đảm sự trang nghiêm, phù hợp với nội dung lịch sử của tượng đài, đồng thời tạo điều kiện để người dân và du khách có thể tiếp cận, tìm hiểu.
Đối chiếu các trường hợp quốc tế và tiền lệ trong nước, một cuộc di dời thuyết phục phải giải quyết đồng thời nhiều yêu cầu: đúng căn cứ, đúng quy trình, đúng kỹ thuật, đúng cách ứng xử với cộng đồng và đúng vị trí.
5 chữ "đúng" đều phải đặt trong thước đo của các chuẩn mực quốc tế. Trong đó, "đúng chỗ" mang ý nghĩa quyết định bởi nơi đến sẽ định hình cách một cuộc di dời được nhìn nhận về sau, như một lựa chọn xứng đáng với lịch sử hay một điều để lại tiếc nuối.