Đóng

Giúp thanh niên biến sản phẩm thành giá trị cho đất nước - Bài 3: Nhận diện điểm nghẽn

Những điểm nghẽn đang làm giảm hiệu quả hỗ trợ, khiến tiềm năng khởi nghiệp chưa được chuyển hóa đầy đủ thành doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng và cạnh tranh.

Việt Nam đang hình thành một hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo năng động, có sức hấp dẫn ngày càng lớn đối với nhà đầu tư trong khu vực. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, nhiều dự án vẫn gặp khó trên hành trình từ ý tưởng đến thị trường. Những hạn chế về cơ chế, chính sách, sự phối hợp giữa các chủ thể và chất lượng nguồn nhân lực đang làm giảm hiệu quả hỗ trợ, khiến tiềm năng khởi nghiệp chưa được chuyển hóa đầy đủ thành doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng và cạnh tranh.

Ngày 5/4/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 86/NQ-CP về Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo, đặt mục tiêu xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo có năng lực cạnh tranh trong khu vực, từng bước khẳng định vị thế của Việt Nam trên bản đồ đổi mới sáng tạo toàn cầu.

Trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển dịch mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức và công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo được xác định là một trong những động lực quan trọng. Việc ban hành Chiến lược nhằm thúc đẩy phong trào khởi nghiệp, hướng tới hình thành hệ sinh thái phát triển thực chất, tạo ra các doanh nghiệp khởi nghiệp có khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường quốc tế.

Theo định hướng của Chính phủ, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo cần được phát triển đồng bộ, có sự liên kết chặt chẽ giữa các chủ thể như cơ quan quản lý, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và các quỹ đầu tư. Đây là nền tảng để chuyển hóa các ý tưởng sáng tạo thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị thương mại cao.

Nghị quyết cũng đặt mục tiêu đến năm 2030 quy mô thị trường vốn đầu tư mạo hiểm đạt 1,5 tỷ USD, cả nước có ít nhất 10.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và 5 doanh nghiệp được định giá từ 1 tỷ USD trở lên.

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo đặt mục tiêu hình thành làn sóng khởi nghiệp mạnh mẽ dựa trên khoa học, công nghệ và chuyển đổi số .

Để hình dung quãng đường phải đi tới đích đó, có thể nhìn vào điểm xuất phát. Theo báo cáo "Triển vọng Công nghệ và Đầu tư mạo hiểm Việt Nam 2025" của Quỹ đầu tư công nghệ VinVentures, cả năm 2025 thị trường vốn đầu tư mạo hiểm Việt Nam chỉ ghi nhận 41 thương vụ với tổng giá trị 215 triệu USD, giảm khoảng 30% so với năm 2024 và là năm thứ 5 liên tiếp đi xuống kể từ đỉnh 2021. Nói cách khác, quy mô thị trường hiện chỉ bằng khoảng 1/7 mục tiêu của năm 2030, trong khi xu hướng vẫn đang đi ngược chiều mong muốn.

Đáng chú ý, trong lúc dòng vốn suy giảm, hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam lại vừa lập kỷ lục về thứ hạng, Báo cáo Chỉ số Hệ sinh thái Khởi nghiệp Toàn cầu 2026 của StartupBlink xếp Việt Nam thứ 50 thế giới, tăng 5 bậc và là mức cao nhất từ trước đến nay. Trong đó, TP. Hồ Chí Minh lần đầu lọt top 100 khi đứng thứ 98, tăng 12 bậc, còn Hải Phòng lần đầu có tên trong top 1.000 toàn cầu. Sở dĩ hai chỉ dấu ngược chiều nhau như vậy bởi thứ hạng phản ánh quy mô và tiềm năng của hệ sinh thái, còn dòng vốn phản ánh mức độ trơn tru của chính hệ sinh thái đó khi vận hành.

Về hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam không thiếu các thiết chế huy động vốn. Theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ, cả nước hiện có khoảng 4.000 start-up, 208 quỹ đầu tư, 84 vườn ươm và hơn 20 trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp ở cấp quốc gia và địa phương với tổng định giá khoảng 75 tỷ USD. Vấn đề không nằm ở chỗ thiếu quỹ mà nằm ở cách đồng vốn lựa chọn điểm đến.

Báo cáo của VinVentures cho biết, trong năm 2025, 10 thương vụ lớn nhất chiếm khoảng 72% tổng vốn đầu tư mạo hiểm được giải ngân, trong khi 60% lượng vốn được dành cho các vòng gọi vốn tiếp theo và vòng cầu nối của những doanh nghiệp vốn đã nằm sẵn trong danh mục nhà đầu tư, khiến tỷ lệ start-up gọi được vốn cả năm chỉ đạt 29,5%. Khi nhà đầu tư dồn tiền về giai đoạn muộn mô hình kinh doanh đã được thị trường kiểm chứng, trong khi đó ở giai đoạn sớm, vốn là lúc một ý tưởng cần tiền nhất để tồn tại lại là nơi thiếu vốn nhất.

Thị trường vốn mạo hiểm hẹp, "cánh cửa" tín dụng ngân hàng lại rào cản do vướng ở điều kiện tài sản bảo đảm. Khảo sát 3.546 doanh nghiệp tư nhân trong nước, 586 doanh nghiệp FDI và 1.001 hộ kinh doanh tại 34 tỉnh, thành phố trong Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025 và Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 2025 do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố tháng 5/2026, ghi nhận 75,5% doanh nghiệp không thể vay vốn nếu thiếu tài sản bảo đảm, trong khi cùng chỉ tiêu này tỷ lệ ở Malaysia chỉ là 33,4%.

Ảnh: Thanh Bình - Duy Khánh

TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh phân tích, với doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, điều kiện tài sản bảo đảm gần như là cánh cửa khép lại ngay từ đầu, bởi những gì có giá trị nhất ở họ lại là thứ mà hệ thống thẩm định hiện hành chưa định giá được. Nhiều dự án đổi mới sáng tạo có tài sản lớn nhất là ý tưởng, công nghệ, dữ liệu, đội ngũ và khả năng tăng trưởng… những thứ rất khó đưa vào cơ chế thế chấp truyền thống.

Từ thực tế điều hành doanh nghiệp, ông Nguyễn Hữu Thế - Chủ nhiệm Câu lạc bộ Đầu tư và Khởi nghiệp Doanh nhân trẻ Thanh Hóa, Giám đốc Công ty Cổ phần Truyền thông số ADV TV cho biết, phần lớn doanh nghiệp khởi nghiệp có ý tưởng, có công nghệ, có khát vọng nhưng lại thiếu tài sản đảm bảo và thiếu các tiêu chí trong tín dụng truyền thống.

"Giá trị lớn nhất của doanh nghiệp khởi nghiệp thường nằm ở tri thức, công nghệ, sáng chế, mô hình kinh doanh và sản phẩm chứ không hẳn là tài sản cố định hoặc là bất động sản. Vì vậy nhiều dự án có tiềm năng phát triển tốt vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn, làm chậm quá trình thương mại hóa sản phẩm và mở rộng quy mô hoạt động sản xuất, kinh doanh", ông nói.

Bên cạnh đó, ở kênh tín dụng chính sách, theo anh Nguyễn Hiếu Trung - Phó Bí thư Thành Đoàn Đồng Nai, mức vay từ Ngân hàng Chính sách xã hội thời gian qua đã hỗ trợ nhiều thanh niên có điều kiện khởi nghiệp, song với các dự án đổi mới sáng tạo hoặc doanh nghiệp đang bước vào giai đoạn mở rộng quy mô thì mức vay hiện nay vẫn còn khá thấp so với nhu cầu thực tế. Anh cho rằng, cần những cơ chế tín dụng linh hoạt hơn theo hướng tăng hạn mức với các dự án khả thi và mở rộng hình thức tín chấp dựa trên phương án kinh doanh, bởi với doanh nghiệp công nghệ, tài sản lớn nhất nhiều khi chính là ý tưởng, đội ngũ và tài sản trí tuệ.

Dẫn khảo sát mới nhất của VCCI về 7 khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp hiện nay, gồm cả doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp quy mô vừa, TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cho biết, bên cạnh vốn, một trong những khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp là tìm kiếm khách hàng. Tỷ lệ doanh nghiệp cho rằng việc tìm kiếm khách hàng và thiết lập quan hệ thị trường trở nên khó khăn đã tăng khá mạnh, từ 45,3% lên 60,2% và là mức cao nhất trong 5 năm qua.

"Điều đó cho thấy cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra đều đang gặp khó khăn, thách thức", ông nói và lưu ý mức độ khó khăn còn khác nhau giữa từng lĩnh vực, ngành nghề.

Bài toán đầu ra càng ngặt nghèo hơn với start-up công nghệ bởi cánh cửa lẽ ra rộng nhất là chuỗi giá trị của các tập đoàn lớn thì lại gần như khép. Mô tả thực trạng này, ông Trần Xuân Đích - Phó Cục trưởng Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng, khu vực FDI tăng trưởng rất nhanh nhưng mức độ lan tỏa công nghệ sang doanh nghiệp nội địa lại chưa cao, còn doanh nghiệp nhỏ và vừa thì không tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu cùng doanh nghiệp FDI, thậm chí cũng chưa vào được hệ sinh thái của các tập đoàn lớn trong nước, khiến hai khối tách bạch và gần như không liên quan đến nhau.

Khoảng cách giữa hai khối này đo được bằng con số khi khu vực FDI hiện chiếm hơn 70% kim ngạch xuất khẩu và đóng góp khoảng 20% GDP nhưng cả nước mới chỉ có khoảng 5.000 doanh nghiệp kết nối trực tiếp với chuỗi cung ứng toàn cầu hoặc các tập đoàn đa quốc gia. Trong đó vỏn vẹn 300 doanh nghiệp là nhà cung cấp cấp 2 và khoảng 100 doanh nghiệp đảm nhận vai trò nhà cung cấp cấp 1. Cũng vì đứng ngoài chuỗi mà tỷ lệ nội địa hóa ngành điện tử hiện chỉ khoảng 5-10%, các ngành công nghiệp trọng điểm khác phổ biến ở mức 15-25%.

Theo các chuyên gia, hệ quả của việc đứng ngoài chuỗi là doanh nghiệp Việt cũng đứng ngoài phần giá trị cao nhất, đây mới là điều đáng lo hơn cả. Quy mô nền kinh tế tuy rất lớn nhưng phần tiền đọng lại trong nền kinh tế thì không nhiều, bởi thời gian qua Việt Nam thu hút FDI và chủ yếu làm gia công, trong khi chưa có đủ doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo để giữ lại phần giá trị gia tăng cao. 

 

"Nếu mãi dừng lại ở việc sản xuất nguyên liệu thô và chế biến đơn giản thì giá trị gia tăng thu về sẽ rất thấp, trong khi cạnh tranh toàn cầu hiện nay về bản chất là cạnh tranh về công nghệ và đổi mới sáng tạo".

Ông Trần Xuân Đích - Phó Cục trưởng Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ

Theo ông Lê Minh Hoan - nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nếu tư duy sản xuất thì bán sản lượng còn chuyển sang tư duy kinh tế thì bán giá trị. Nếu chỉ sản xuất nhiều hơn chúng ta sẽ tiếp tục cạnh tranh bằng giá rẻ; nếu kiến tạo giá trị mới, chúng ta sẽ cạnh tranh bằng sự khác biệt.

"Đó là con đường mà các nền kinh tế thành công đã đi qua bởi họ không giàu lên vì bán nhiều nguyên liệu hơn mà giàu lên vì bán nhiều chất xám hơn, nhiều ý tưởng hơn, nhiều sáng tạo hơn. Nếu trước đây lợi thế nằm ở tài nguyên, lao động giá rẻ, diện tích thì hiện nay lợi thế nằm ở dữ liệu, tri thức và khả năng kết nối", ông nói.

Cũng theo nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan, các địa phương thường tìm mọi cách thu hút FDI, thu hút những "đại bàng" nhưng đôi lúc chưa quan tâm nhiều đến việc tạo tổ cho những "đàn chim sẻ", đây là việc phải rất lưu tâm trong thời gian tới. Ông cho rằng, cần tiếp tục mở rộng cánh cửa đón những "đại bàng" nhưng đồng thời dành nhiều tâm huyết hơn để lót những chiếc tổ cho "đàn chim sẻ", bởi hệ sinh thái kinh tế khỏe mạnh không chỉ được đo bằng số lượng đại bàng bay đến mà còn được đo bằng số lượng "chim sẻ" lớn lên từ chính mảnh đất quê hương mình.

Theo ông, mỗi doanh nghiệp có thể nhỏ về quy mô vốn nhưng lại là một mắt xích không thể thay thế trong chuỗi giá trị nên bài học lớn từ thế giới không phải là làm sao tạo ra vài "đại bàng" mà là làm sao tạo ra một hệ sinh thái với hàng ngàn con chim sẻ khỏe mạnh.

 

"Mỗi doanh nghiệp có thể nhỏ về quy mô vốn nhưng lại là một mắt xích không thể thay thế trong chuỗi giá trị nên bài học lớn từ thế giới không phải là làm sao tạo ra vài "đại bàng" mà là làm sao tạo ra một hệ sinh thái với hàng ngàn con chim sẻ khỏe mạnh".

Ông Lê Minh Hoan - nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội

Trong lúc những chiếc tổ đó đang thành hình, doanh nghiệp trẻ phải tự xoay xở cả đầu ra lẫn đầu vào. Theo GS.TS Hoàng Văn Cường - Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, khởi nghiệp mới chỉ là điểm xuất phát, còn mục tiêu cuối cùng phải là hình thành những doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn, năng lực cạnh tranh cao và khả năng dẫn dắt thị trường. Song trên thực tế, các doanh nghiệp trẻ đang phải tự tìm đầu ra thay vì được các doanh nghiệp lớn đầu tư, đặt hàng công nghệ và hợp tác. Đây là lý do trọng tâm chính sách thời gian tới cần chuyển từ khuyến khích thành lập sang hỗ trợ doanh nghiệp tăng trưởng.

Đặt câu hỏi vì sao nhiều dự án khởi nghiệp có ý tưởng tốt nhưng khó mở rộng quy mô, TS. Võ Trí Thành cho rằng, gốc rễ không nằm ở khâu nghĩ ra ý tưởng. "Điểm nghẽn lớn nhất của nhiều dự án khởi nghiệp trẻ không nằm ở ý tưởng, ý tưởng ở Việt Nam không thiếu, tinh thần dấn thân cũng không thiếu. Cái thiếu thường nằm ở năng lực biến ý tưởng thành mô hình kinh doanh có thể mở rộng", ông nói và đánh giá đây là bài toán khó nhất của khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

Theo vị chuyên gia, chặng mà phần lớn dự án "gãy" là ngay sau thành công đầu tiên, bởi một nhóm bạn trẻ có thể tạo ra sản phẩm ban đầu khá tốt, bán được cho nhóm khách hàng đầu tiên và gây chú ý trên truyền thông nhưng bước tiếp theo lại rất khắc nghiệt khi đòi hỏi hàng loạt việc cùng lúc, từ chuẩn hóa sản phẩm, quản trị dòng tiền, tuyển người giỏi, kiểm soát chi phí, bảo vệ sở hữu trí tuệ, đáp ứng pháp lý đến mở rộng kênh phân phối và gọi vốn.

"Họ có cảm hứng khởi nghiệp nhưng chưa đủ năng lực quản trị doanh nghiệp, có công nghệ nhưng chưa chắc hiểu thị trường, có sản phẩm nhưng chưa chắc có mô hình doanh thu bền vững", ông phân tích và cho rằng muốn đi xa, thanh niên khởi nghiệp phải vượt qua giai đoạn "hay, lạ, truyền cảm hứng" để bước vào giai đoạn "đúng thị trường, tốt quản trị và bền tài chính", bởi kinh tế thị trường không trả tiền cho ý tưởng đẹp mà trả tiền cho giải pháp có ích, sản phẩm có chất lượng và mô hình có khả năng mở rộng.

Chung nhận định này, chuyên gia kinh tế, TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica cho rằng, khoảng cách giữa một ý tưởng và một doanh nghiệp có quy mô vẫn còn khá lớn khi khả năng quản trị doanh nghiệp của phần lớn dự án còn nhiều điểm cần hoàn thiện, trong khi kỹ năng quản trị rủi ro, quản trị tài chính, sở hữu trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu thì chưa theo kịp yêu cầu của một nền kinh tế đổi mới sáng tạo. Theo ông, tinh thần khởi nghiệp của thanh niên đã chuyển dịch từ tư duy tìm kiếm cơ hội sang tư duy kiến tạo giá trị bền vững nhưng chính khoảng trống năng lực nói trên đang "níu" nhiều dự án lại ở quy mô nhỏ.

 

"Tinh thần khởi nghiệp của thanh niên đang có sự chuyển dịch tích cực, từ tư duy tìm kiếm cơ hội kinh doanh sang tư duy kiến tạo giá trị bền vững cho xã hội. Tuy nhiên, khoảng trống về kiến thức quản trị và năng lực tổ chức thực thi đang trở thành lực cản, khiến nhiều dự án dù có ý tưởng tốt vẫn khó lớn lên, khó gọi vốn và thường dừng lại ở quy mô nhỏ"

TS. Lê Duy Bình - Chuyên gia kinh tế, Giám đốc Economica

Lỗ hổng năng lực cũng thể hiện rõ ở khâu bán hàng, theo ông Nguyễn Bá Hải - Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ Xúc tiến thương mại và đầu tư, Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương, ý tưởng tốt, công nghệ mới hay mô hình sản xuất sáng tạo mới chỉ là điểm khởi đầu, còn giá trị của khởi nghiệp chỉ được khẳng định khi sản phẩm được thương mại hóa và được thị trường chấp nhận.

Sản phẩm sẽ khó tạo ra giá trị kinh tế nếu thiếu năng lực thương mại, bởi xúc tiến thương mại không phải là đưa sản phẩm đến hội chợ để trưng bày cho đẹp mà hội chợ. Triển lãm, đoàn giao dịch thương mại hay các phiên kết nối cung cầu chỉ thực sự hiệu quả khi doanh nghiệp đã chuẩn bị đầy đủ hồ sơ sản phẩm, catalogue, mẫu thử, chứng nhận chất lượng, chính sách giá và phương án đáp ứng đơn hàng…. thiếu sự chuẩn bị đó, cơ hội sẽ mất ngay tại chỗ.

"Thực tế có những sản phẩm rất tốt nhưng doanh nghiệp chưa sẵn sàng làm việc với nhà mua hàng, cơ hội vì thế trôi qua ngay tại điểm gặp gỡ thị trường", ông Hải dẫn chứng. Trong khi đó, cơ hội thị trường đã được mở khá rộng, giai đoạn 2021-2025, Bộ Công Thương phê duyệt 630 đề án xúc tiến thương mại với tổng kinh phí hơn 650 tỷ đồng, hỗ trợ trực tiếp hơn 41.000 lượt doanh nghiệp và hợp tác xã, riêng năm 2025 có 114 đề án được triển khai gồm 81 đề án phát triển ngoại thương và 33 đề án thúc đẩy thị trường trong nước.

Vì vậy, theo ông Hải, người trẻ có thể có ý tưởng mới, công nghệ mới và tinh thần dấn thân rất cao nhưng nếu thiếu tiêu chuẩn, thiếu năng lực cung ứng, thiếu thương hiệu và thiếu kỹ năng làm việc với nhà phân phối thì đổi mới sáng tạo vẫn khó chuyển hóa thành tăng trưởng.

Ảnh: Thanh Bình - Ngọc Anh

Ở khía cạnh vươn ra thị trường quốc tế, chị Lý Thu Uyên - Chủ nhiệm Câu lạc bộ Giao thương Quốc tế, Giám đốc Công ty TNHH MTV Tâm Vĩnh Thái nhận định, khát vọng khởi nghiệp rất quan trọng nhưng chưa đủ, bởi ngoại ngữ, kỹ năng số, tư duy quản trị hiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng đàm phán và thích ứng với biến động thị trường mới là những điều kiện thiết yếu để cạnh tranh trong môi trường toàn cầu.

Theo chị, chuyển đổi số, thương mại điện tử xuyên biên giới và các hiệp định thương mại tự do đã mở ra nhiều cơ hội mới, doanh nghiệp trẻ có thể tiếp cận khách hàng và hệ thống phân phối quốc tế nhanh hơn nếu biết tận dụng công nghệ, dữ liệu và các nền tảng số nhưng cơ hội hiếm khi tự tìm đến, muốn bước ra thế giới thì trước hết phải chủ động bước ra khỏi phạm vi quen thuộc của mình.

Theo các chuyên gia, điều dễ nhận thấy là hỗ trợ khởi nghiệp ở Việt Nam "đông vui" nhất tại vạch xuất phát và thưa dần ở những chặng sau. TS. Võ Trí Thành ghi nhận tuyên truyền, cuộc thi, diễn đàn, tuyên dương đều cần thiết vì khơi dậy khát vọng và giúp xã hội nhìn thấy những gương mặt mới, song đó chưa phải là thước đo.

"Sau ánh đèn sân khấu, câu hỏi thật sự là dự án có được tiếp cận vốn không, có được thử nghiệm sản phẩm không, có gặp được khách hàng không và có đủ năng lực để lớn lên hay không", ông đặt vấn đề và cho rằng chính sách hỗ trợ cần chuyển từ khuyến khích tinh thần sang tạo điều kiện phát triển năng lực.

Cùng đó, nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp đang phải dành quá nhiều thời gian cho thủ tục hành chính; điều kiện kinh doanh hoặc các quy định pháp lý chưa theo kịp mô hình kinh doanh mới; trong khi chi phí tuân thủ cao sẽ làm giảm nguồn lực đáng lẽ dành cho nghiên cứu, phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường. "Đây là vấn đề cần được nhìn nhận như một rào cản của tăng trưởng chứ không đơn thuần là câu chuyện cải cách thủ tục", TS. Võ Trí Thành nhấn mạnh.

 

"Nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp đang phải dành quá nhiều thời gian cho thủ tục hành chính; điều kiện kinh doanh hoặc các quy định pháp lý chưa theo kịp mô hình kinh doanh mới; trong khi chi phí tuân thủ cao sẽ làm giảm nguồn lực đáng lẽ dành cho nghiên cứu, phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường. Đây là vấn đề cần được nhìn nhận như một rào cản của tăng trưởng chứ không đơn thuần là câu chuyện cải cách thủ tục". 

TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh

Theo TS. Bùi Thanh Minh - Phó Giám đốc chuyên môn Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV), Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng, hệ sinh thái hỗ trợ vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển của các ý tưởng đổi mới sáng tạo, người trẻ thường được hỗ trợ khá tốt ở giai đoạn cuộc thi ý tưởng hoặc ươm tạo ban đầu nhưng đến lúc bước sang giai đoạn mở rộng thị trường, gọi vốn, thử nghiệm sản phẩm hay tham gia chuỗi cung ứng thì khoảng trống chính sách vẫn còn khá lớn.

Ông đánh giá, chất lượng các dự án khởi nghiệp của thanh niên đã thay đổi đáng kể khi ngày càng nhiều nhóm chọn giải quyết những bài toán lớn của doanh nghiệp và xã hội thay vì sao chép ý tưởng có sẵn nên khoảng trống hỗ trợ ở giai đoạn giữa càng trở nên đáng tiếc.

Thực tế, qua khỏi giai đoạn tuyên dương, nhiều dự án rơi vào cảnh tự bơi vì các nguồn lực xung quanh không kết nối được với nhau, nhiều dự án trẻ vẫn tự bơi, thiếu người dẫn đường và thiếu cơ hội thử nghiệm trong thị trường. Theo ông, mỗi nhóm khởi nghiệp lại cần một cách hỗ trợ khác nhau, khởi nghiệp công nghệ cần nhà khoa học, quỹ đầu tư và môi trường thử nghiệm, khởi nghiệp nông nghiệp cần hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến, logistics và xúc tiến thương mại, nên không thể dùng một công thức chung cho tất cả.

 

"Với khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, độ vênh giữa mô hình mới và quy định cũ tạo ra rào cản đặc thù. Cần nhìn nhận khởi nghiệp đổi mới sáng tạo bằng tư duy linh hoạt hơn, bởi mô hình mới thường đi trước quy định, nếu quản lý quá chặt theo lối cũ thì sáng tạo dễ bị bó lại, ngược lại nếu buông lỏng thì rủi ro cho thị trường và người tiêu dùng sẽ xuất hiện. Bài toán nằm ở quản lý thông minh, thử nghiệm có kiểm soát và bảo vệ tinh thần sáng tạo, nếu không có thị trường thử nghiệm thì nhiều ý tưởng tốt sẽ dừng ở bản trình chiếu".

TS. Bùi Thanh Minh - Phó Giám đốc chuyên môn Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV), Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng

Đồng quan điểm, TS. Nguyễn Văn Trúc - Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ cho hay, bài học kinh nghiệm lớn từ giai đoạn trước là chúng ta thường tổ chức các cuộc thi khởi nghiệp theo mô hình lựa chọn ý tưởng lý thuyết rồi mới cấp kinh phí hỗ trợ, dẫn đến tình trạng các sản phẩm làm ra không tìm được chỗ đứng trên thị trường.

Bản chất cốt lõi của khởi nghiệp sáng tạo phải là phát triển các sản phẩm mới giải quyết được nhu cầu thực tế của một thị trường đang "khát" giải pháp, chứ không phải hiện thực hóa những ý tưởng mang tính chủ quan trong phòng thí nghiệm. Do đó, hoạt động khởi nghiệp bắt buộc phải gắn liền với doanh nghiệp, bởi chính doanh nghiệp là đơn vị hiểu rõ nhất họ cần công nghệ gì.

 

"Bản chất cốt lõi của khởi nghiệp sáng tạo phải là phát triển các sản phẩm mới giải quyết được nhu cầu thực tế của một thị trường đang "khát" giải pháp, chứ không phải hiện thực hóa những ý tưởng mang tính chủ quan trong phòng thí nghiệm. Do đó, hoạt động khởi nghiệp bắt buộc phải gắn liền với doanh nghiệp, bởi chính doanh nghiệp là đơn vị hiểu rõ nhất họ cần công nghệ gì".

TS. Nguyễn Văn Trúc - Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ

Bên cạnh đó, khoảng cách giữa sản phẩm đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp vẫn là rào cản lớn khi một bên mạnh về công nghệ còn bên kia quan tâm đến hiệu quả đầu tư, nên nếu thiếu các tổ chức trung gian đủ năng lực đánh giá công nghệ và kết nối hai bên thì các ý tưởng đổi mới sáng tạo khó đi vào thực tiễn.

Chỉ ra một mắt xích chưa phát huy đầy đủ vai trò trong hệ sinh thái, TS. Phan Đức Hiếu - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội nhận định, hoạt động của nhiều hiệp hội doanh nghiệp còn hạn chế, từ cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt động đến hiệu quả hỗ trợ hội viên. Trong khi đó, hiệp hội có thể hỗ trợ doanh nghiệp hiệu quả hơn cơ quan quản lý trong nhiều công việc cụ thể.

Theo ông, khi hội viên gặp vướng mắc, hiệp hội không nên dừng ở việc ghi nhận và chuyển kiến nghị tới cơ quan có thẩm quyền. Hiệp hội cần trực tiếp tìm hiểu bản chất vấn đề, xác định khó khăn xuất phát từ bất cập chính sách, quy trình thực hiện hay năng lực lập hồ sơ của doanh nghiệp. Qua đó, hiệp hội phải trở thành kênh sàng lọc và phản biện ban đầu thay vì chỉ là nơi tiếp nhận và chuyển đơn.

Theo các chuyên gia, Hàn Quốc từng biến khát vọng công nghiệp hóa thành sứ mệnh quốc gia. Việt Nam hôm nay cũng có thể kiến tạo một "giấc mơ Việt Nam" của thế kỷ XXI, nơi khởi nghiệp trở thành biểu tượng của tinh thần sáng tạo, ý chí tự cường và bản lĩnh chinh phục thị trường.

Thực hiện: Nguyên Thảo

Nguồn: