Đóng

GS Trần Chủng: Nghị quyết 68-NQ/TW tạo nền tảng thể chế để bứt phá

Với sự tham gia mạnh mẽ hơn của doanh nghiệp tư nhân, Việt Nam sẽ chứng kiến thêm nhiều đột phá mới, góp phần thúc đẩy tăng trưởng.

Gần 80 tuổi, hơn nửa thế kỷ gắn bó với ngành giao thông, GS.TS Trần Chủng - Chủ tịch Hiệp hội các nhà đầu tư công trình giao thông đường bộ Việt Nam đã chứng kiến nhiều bước chuyển lớn trong ngành giao thông.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông đã chia sẻ những kỳ vọng Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và tác động của đối với lĩnh vực giao thông trong giai đoạn phát triển mới.

PGS.TS Trần Chủng - Chủ tịch Hiệp hội các nhà đầu tư công trình giao thông đường bộ Việt Nam

Khát vọng cống hiến

- Gần như dành trọn một đời gắn bó với lĩnh vực xây dựng, giao thông, khi chứng kiến những cột mốc như hoàn thành 3.000 km cao tốc và hướng tới mục tiêu 5.000 km trong thời gian tới, cảm xúc của ông ra sao?

GS.TS Trần Chủng: Năm nay 78 tuổi, tôi may mắn được gắn bó với ngành giao thông của đất nước từ sau ngày giải phóng đến nay, đi qua hầu hết những khúc ngoặt quan trọng nhất của ngành.

Tôi có cơ hội được chứng kiến và trực tiếp tham gia, theo dõi những công nghệ, kỹ thuật tiên tiến lần đầu tiên áp dụng ở Việt Nam, từ cầu dây văng Mỹ Thuận, hầm Hải Vân đến nhiều công trình đặc biệt khác. Vì vậy, tôi rất ý thức được chặng đường phát triển ấy và có thể chia sẻ sâu sắc cảm xúc của những người đã, đang làm giao thông.

Từ năm 1975 đến nay, hơn nửa thế kỷ là một hành trình phát triển rất mạnh mẽ. Đặc biệt 5 năm gần đây, tốc độ tăng trưởng hạ tầng giao thông tạo ra bước đột phá rõ rệt. Khi người dân hôm nay được đi trên những tuyến cao tốc liên tục, an toàn, nhanh chóng, đó là thành tựu của biết bao thế hệ lao động ngành giao thông, của những người làm trong phòng thiết kế, những kỹ sư, công nhân miệt mài ngoài công trường...

Tôi nghĩ tất cả chúng ta cần bày tỏ sự trân trọng đối với những người làm giao thông. "Phu đường" khổ lắm, công việc ấy luôn nhiều gian nan. Hôm nay, những "phu đường" hiện đại đã tạo nên hệ thống cao tốc đồng bộ, an toàn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, bảo đảm an toàn cho người dân và ngày càng thân thiện hơn với môi trường. Đó là niềm tự hào rất lớn đối với tôi và với cả ngành giao thông.

- Thưa ông, với Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, nhiều ý kiến cho rằng đây là bước chuyển quan trọng về tư duy và thể chế. Những điểm mới nào trong Nghị quyết có thể tác động trực tiếp đến niềm tin, sự mạnh dạn đầu tư và năng lực thực thi của doanh nghiệp?

GS.TS Trần Chủng: Nghị quyết 68 là một trong những nghị quyết rất quan trọng, được xem là một trụ cột trong nhóm các nghị quyết chiến lược mà Đảng đã ban hành trong thời gian gần đây. Nghị quyết đã tập trung vào việc tạo cơ hội và không gian phát triển cho kinh tế tư nhân.

Tinh thần của Nghị quyết thể hiện sự nhìn nhận đầy đủ hơn về vai trò của doanh nghiệp tư nhân, của các nhà đầu tư trong nước. Họ không chỉ đóng góp nguồn lực tài chính mà còn đóng góp trí tuệ, nhân lực, công sức và cả khát vọng phát triển đất nước. Thực tiễn thời gian qua đã cho thấy khu vực tư nhân tham gia rất cụ thể vào những thành tựu chung, đặc biệt trong lĩnh vực hạ tầng, công nghiệp và dịch vụ.

Việc ban hành Nghị quyết 68 có ý nghĩa khơi thông tư duy, củng cố niềm tin và tạo nền tảng thể chế để doanh nghiệp tư nhân yên tâm đầu tư dài hạn. Khi môi trường chính sách rõ ràng, ổn định và công bằng hơn, khát vọng cống hiến của doanh nhân sẽ có điều kiện chuyển hóa thành những dự án cụ thể, những công trình hiện hữu.

Tôi kỳ vọng rằng với sự tham gia mạnh mẽ hơn của doanh nghiệp tư nhân trong giai đoạn tới, chúng ta sẽ chứng kiến thêm nhiều đột phá nói chung và trong lĩnh vực hạ tầng giao thông nói riêng như mục tiêu 5.000 km cao tốc; góp phần thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Ngày càng nhiều doanh nghiệp tư nhân tham gia phát triển hạ tầng giao thông - Ảnh minh họa

Đột phá thu hút nguồn lực

- Việc doanh nghiệp tư nhân tham gia đầu tư hạ tầng giao thông sẽ mang lại những lợi ích gì cho nền kinh tế nói chung và cho chính các doanh nghiệp nói riêng, thưa ông?

GS.TS Trần Chủng: Có thể khẳng định xu hướng doanh nghiệp tư nhân tham gia đầu tư hạ tầng giao thông mang lại giá trị ở cả tầm kinh tế vĩ mô lẫn cấp độ doanh nghiệp.

Với nền kinh tế, trước hết đây là kênh huy động nguồn lực xã hội để chia sẻ gánh nặng ngân sách trong các dự án quy mô lớn. Khi vốn tư nhân được đưa vào hạ tầng, Nhà nước có thêm dư địa tài khóa cho các lĩnh vực thiết yếu khác. Cơ chế thị trường cũng tạo áp lực về tiến độ và hiệu quả, nhờ đó nhiều dự án được triển khai nhanh, kiểm soát chi phí chặt chẽ và bảo đảm chất lượng. Điều này góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, cải thiện năng lực cạnh tranh và hỗ trợ tăng trưởng dài hạn.

Ở phía doanh nghiệp, hạ tầng giao thông là môi trường rèn luyện năng lực quản trị, tổ chức thi công và điều hành dự án phức tạp. Tham gia các công trình lớn giúp doanh nghiệp tích lũy kinh nghiệm, ứng dụng công nghệ hiện đại, hoàn thiện giải pháp tài chính và nâng cao uy tín trên thị trường. Không ít đơn vị coi đây là bước đi chiến lược để xây dựng nền tảng phát triển bền vững thay vì chỉ hướng đến lợi nhuận ngắn hạn.

Thực tiễn các dự án BOT trong 15 năm qua cho thấy doanh nghiệp tư nhân có thể bảo đảm tiến độ, chất lượng và tối ưu chi phí. 3 đặc điểm nổi bật thường được ghi nhận là tiến độ vượt kế hoạch, chất lượng công trình tốt và không vượt tổng mức đầu tư, thậm chí còn tiết giảm nhờ quản trị khoa học và năng suất lao động cao.

Đặc biệt là khả năng sử dụng nguồn nhân lực. Doanh nghiệp chủ động huy động chuyên gia giàu kinh nghiệm, đồng thời đào tạo đội ngũ trong nước để tiếp thu công nghệ. Điển hình như việc người Việt đã học hỏi và làm chủ công nghệ đào hầm NATM hiện đại, từ đó cải tiến, sáng tạo ra công nghệ NATM "hệ Đèo Cả" để nâng cao chất lượng và đẩy nhanh tiến độ thi công. Đó là điều rất đáng tự hào.

- Thưa ông, tổng kết mục tiêu hoàn thành hơn 3.000km đường bộ cao tốc, nhiều nhà thầu chia sẻ rằng họ sẵn sàng chấp nhận giảm lợi nhuận để bảo đảm tiến độ theo chỉ đạo chung. Ông nhìn nhận như thế nào về việc hài hòa giữa ba yếu tố: tiến độ, chất lượng công trình và sức khỏe tài chính dài hạn của doanh nghiệp đầu tư hạ tầng?

GS.TS Trần Chủng: Tôi cho rằng những gì diễn ra thời gian qua thể hiện một sự quyết tâm rất lớn. Có thể nói, bằng ý chí và tinh thần dồn toàn lực, chúng ta đã tạo nên những bước tiến nhanh về hạ tầng. Lịch sử từng cho thấy, nếu không có ý chí và quyết tâm thì chúng ta khó có thể vượt qua những thử thách lớn của dân tộc. Tinh thần ấy hôm nay được chuyển hóa vào công cuộc phát triển đất nước.

Nhiều doanh nghiệp, nhiều nhà thầu sẵn sàng chấp nhận giảm lợi nhuận, thậm chí chịu thiệt thòi trong ngắn hạn để bảo đảm tiến độ theo mục tiêu chung. Đó là điều rất đáng trân trọng. Họ coi việc hoàn thành công trình đúng hoặc vượt tiến độ là niềm tự hào, là trách nhiệm đối với quốc gia.

Tuy nhiên, bài toán không thể chỉ dừng ở tinh thần hy sinh. Phát triển bền vững đòi hỏi phải hài hòa giữa tiến độ, chất lượng công trình và sức khỏe tài chính dài hạn của doanh nghiệp. Khi nhà thầu rút ngắn tiến độ 6 tháng, họ phải dồn thêm nhân lực, thiết bị, vốn lưu động, có khi đầu tư thêm hàng trăm tỷ đồng. Nếu không có cơ chế phù hợp để chia sẻ rủi ro và bù đắp chi phí hợp lý, năng lực tái đầu tư và tích lũy của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng.

Vì vậy, bên cạnh việc ghi nhận nỗ lực của doanh nghiệp, Nhà nước cũng cần có chính sách bảo đảm tính công bằng. Đó có thể là cơ chế thanh toán kịp thời, điều chỉnh giá hợp lý khi biến động đầu vào, ưu đãi tín dụng hoặc những chính sách khuyến khích tái đầu tư. Doanh nghiệp sẵn sàng đóng góp cho mục tiêu quốc gia nhưng họ cũng cần đủ điều kiện để phát triển thành những doanh nghiệp mạnh, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế.

Nói cách khác, trách nhiệm là hai chiều. Doanh nghiệp có trách nhiệm với đất nước và Nhà nước cũng có trách nhiệm tạo môi trường để doanh nghiệp lớn mạnh bền vững. Chỉ khi hai yếu tố này song hành, chúng ta mới duy trì được động lực phát triển lâu dài cho hạ tầng và cho nền kinh tế.

Xin cảm ơn ông!

Hiện thực hóa Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 10 năm (2021-2030), trong 5 năm tới, 5.000km đường cao tốc sẽ được đầu tư, xây dựng thông qua các cơ chế, chính sách đột phá; thu hút "rót vốn" vào hạ tầng giao thông và sự trưởng thành lớn mạnh của các doanh nghiệp, nhà thầu xây dựng.

Nguyên Thảo (thực hiện)