Đóng

Hạ tầng số dữ liệu kết nối nông nghiệp với công nghiệp thương mại

Ông Vũ Ngọc Tuấn nhấn mạnh hạ tầng số và dữ liệu là điều kiện chuẩn để nông nghiệp Việt Nam thích ứng tiêu chuẩn quốc tế và tham gia sâu vào chuỗi công nghiệp, thương mại

Biến đổi khí hậu cực đoan, tài nguyên suy giảm và các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe đang tạo ra sức ép chưa từng có đối với nông nghiệp Việt Nam. Các quy định như chống phá rừng của EU hay cơ chế điều chỉnh biên giới carbon không chỉ dừng lại ở yêu cầu môi trường, mà đang trực tiếp quyết định khả năng tham gia thị trường của sản phẩm.

Áp lực này không còn là câu chuyện riêng của sản xuất, mà lan sang toàn bộ chuỗi giá trị từ chế biến, logistics đến xuất khẩu. Đây là những lĩnh vực gắn chặt với ngành Công Thương. Mô hình tăng trưởng tuyến tính dựa vào khai thác tài nguyên đang dần bộc lộ giới hạn. Hạ tầng số và dữ liệu vì thế không chỉ là công cụ hỗ trợ, mà trở thành nền tảng để tái cấu trúc toàn bộ hệ thống sản xuất theo hướng kinh tế sinh thái và bền vững.

Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Vũ Ngọc Tuấn - Phó Trưởng phòng Công nghệ số, Cục Chuyển đổi số - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, để làm rõ những vấn đề cốt lõi của quá trình này.

Ông Vũ Ngọc Tuấn - Phó Trưởng phòng Công nghệ số, Cục Chuyển đổi số - Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh: Thanh Thảo.

Dữ liệu là “tài sản chiến lược” quyết định khả năng xuất khẩu và cạnh tranh

- Thưa ông, vì sao hạ tầng số và dữ liệu lại được coi là động lực mới cho tăng trưởng xanh trong nông nghiệp?

Ông Vũ Ngọc Tuấn: Thực tế cho thấy nông nghiệp không thể tiếp tục phát triển theo mô hình truyền thống tiêu tốn nhiều tài nguyên. Những áp lực từ biến đổi khí hậu và yêu cầu thị trường quốc tế buộc chúng ta phải thay đổi cách tiếp cận.

Chuyển đổi kép giữa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là xu hướng tất yếu. Ở đó, hạ tầng kỹ thuật số, dữ liệu và các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, blockchain, bản sao số hay điện toán đám mây đóng vai trò nền tảng. Đồng thời, chuyển đổi xanh hướng tới giảm phát thải, phát triển kinh tế tuần hoàn và bảo vệ hệ sinh thái.

Điểm quan trọng là dữ liệu không còn chỉ là công cụ hỗ trợ mà đã trở thành một nguồn tài nguyên mới, một “tài sản chiến lược”, giúp đo lường, giám sát và tạo ra giá trị xanh thực chất.

- Với doanh nghiệp, đặc biệt trong chuỗi chế biến và thương mại, dữ liệu mang lại giá trị như thế nào?

Ứng dụng công nghệ số và dữ liệu giúp doanh nghiệp tối ưu chi phí, tiết kiệm nguồn lực, đồng thời minh bạch toàn bộ chuỗi cung ứng từ sản xuất đến tiêu dùng. Ảnh: Báo Công Thương.

Ông Vũ Ngọc Tuấn: Lợi ích là rất rõ ràng. Ứng dụng công nghệ giúp doanh nghiệp giảm từ 15 đến 20% chi phí đầu tư, tiết kiệm năng lượng và nhân công. Nhưng quan trọng hơn, dữ liệu giúp minh bạch toàn bộ chuỗi cung ứng.

Trong bối cảnh các thị trường như EU, Nhật Bản ngày càng yêu cầu cao về truy xuất nguồn gốc, phát thải và tiêu chuẩn môi trường, dữ liệu gần như trở thành điều kiện bắt buộc để sản phẩm có thể tham gia thị trường.

Việc làm chủ dữ liệu cũng mở ra cơ hội tiếp cận tài chính xanh và nâng cao giá trị thương hiệu. Đồng thời, dữ liệu là yếu tố kết nối nông nghiệp với công nghiệp chế biến, logistics và thương mại, qua đó hình thành chuỗi giá trị bền vững gắn với ngành Công Thương.

Cần có thể chế phù hợp để công nghệ định hình chuỗi sản xuất và cung ứng

- Thưa ông, đâu là yếu tố quyết định để quá trình chuyển đổi này diễn ra hiệu quả?

Ông Vũ Ngọc Tuấn: Chuyển đổi số không thể tách rời thể chế. Nếu không có hành lang pháp lý phù hợp, quá trình này sẽ khó đi vào thực chất.

Hiện nay, các chính sách liên quan đến dữ liệu, giao dịch điện tử và công nghệ số đang dần được hoàn thiện, tạo nền tảng cho chuyển đổi số toàn diện. Chiến lược chuyển đổi số ngành nông nghiệp cũng đặt ra các mục tiêu rất cụ thể như nâng tỷ trọng kinh tế số lên 10% vào năm 2030 và 20% vào năm 2035, đồng thời quản lý tài nguyên dựa trên dữ liệu thời gian thực.

Bên cạnh đó, kiến trúc số ngành được xây dựng theo hướng thống nhất, liên thông, kết nối với Trung tâm Dữ liệu Quốc gia và bảo đảm an toàn thông tin nhiều lớp, nhằm khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán và thiếu đồng bộ.

- Thực tế triển khai cho thấy công nghệ và dữ liệu đã tạo ra những thay đổi như thế nào?

Ứng dụng IoT, AI, blockchain và hệ thống MRV đang góp phần tối ưu sản xuất, kiểm soát dịch bệnh, minh bạch truy xuất nguồn gốc và đo lường phát thải, hướng tới chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững. Ảnh: Báo Công Thương.

Ông Vũ Ngọc Tuấn: Hiện nay, dữ liệu và công nghệ đã được ứng dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả rõ rệt. Các cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, nghề cá và các lĩnh vực chuyên ngành đã được xây dựng và từng bước hoàn thiện, giúp minh bạch thông tin và nâng cao hiệu quả quản lý.

Trong sản xuất, Internet vạn vật cho phép giám sát và tối ưu điều kiện canh tác, giúp giảm chi phí vật tư từ 15 đến 25%. Trí tuệ nhân tạo hỗ trợ phát hiện sớm dịch bệnh và tối ưu hóa chuỗi cung ứng. Blockchain được ứng dụng để truy xuất nguồn gốc, còn hệ thống MRV giúp đo lường phát thải và kết nối với thị trường carbon.

Bên cạnh đó, công nghệ bản sao số cho phép mô phỏng các kịch bản thiên tai, hỗ trợ ra quyết định chính xác hơn trong điều hành sản xuất. Những ứng dụng này đang từng bước tái định hình toàn bộ chuỗi sản xuất và cung ứng theo hướng thông minh và bền vững.

- Trân trọng cảm ơn ông!

Hạ tầng số và dữ liệu đang trở thành yếu tố quyết định khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của nông nghiệp Việt Nam. Khi các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe, minh bạch dữ liệu không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà là điều kiện để sản phẩm được chấp nhận trên thị trường. Việc ứng dụng công nghệ giúp giảm chi phí, tăng năng suất và kết nối chặt chẽ giữa sản xuất, chế biến và thương mại.

Tuy nhiên, để chuyển đổi đi vào thực chất, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa dữ liệu, phát triển nhân lực và thúc đẩy ứng dụng công nghệ. Trong dài hạn, dữ liệu sẽ không chỉ là công cụ mà trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế của nông nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thanh Thảo