Halal - không còn là thị trường ngách
Theo các số liệu thống kê, cộng đồng Hồi giáo hiện đã vượt mốc 2 tỷ người, chiếm khoảng 25% dân số thế giới. Nền kinh tế Halal toàn cầu được dự báo đạt quy mô khoảng 5.000 tỷ USD vào năm 2030, mở rộng từ các lĩnh vực truyền thống như thực phẩm và đồ uống sang mỹ phẩm, dược phẩm, logistics, du lịch và thương mại điện tử xuyên biên giới.
Đáng chú ý, quy mô dân số Hồi giáo của các nước châu Âu ngày một tăng. Báo cáo mới nhất của Agriculture and Horticulture Development Board (AHDB), cơ quan nghiên cứu và phát triển ngành nông nghiệp - thực phẩm của Vương quốc Anh cho biết, tại Pháp và Đức - hai nền kinh tế hàng đầu khu vực, mỗi nước hiện có khoảng 6 triệu người Hồi giáo, thuộc nhóm cộng đồng lớn nhất tại châu Âu.
Trong khi đó, Hà Lan hiện có khoảng 1,2 triệu người Hồi giáo, tương đương 6 - 7% dân số cả nước. Quy mô cộng đồng này tạo ra nhu cầu ổn định và lâu dài đối với các sản phẩm thực phẩm đáp ứng tiêu chuẩn Halal.
Halal không còn là thị trường ngách mà dần trở thành thị trường trọng điểm trong chiến lược xuất khẩu của doanh nghiệp Việt.
Trong bối cảnh đó, Halal không còn được nhìn nhận là một thị trường ngách mà đang hình thành một hệ sinh thái tiêu dùng toàn diện, với các tiêu chuẩn cốt lõi xoay quanh đạo đức sản xuất, minh bạch chuỗi cung ứng và khả năng truy xuất nguồn gốc.
Đáng chú ý, xu hướng tiêu dùng Halal ngày càng vượt ra ngoài cộng đồng Hồi giáo. Tại nhiều thị trường phát triển, người tiêu dùng không theo đạo Hồi cũng lựa chọn sản phẩm Halal như minh chứng về chất lượng, an toàn và tính bền vững. Điều này mở rộng đáng kể dư địa thị trường cho các quốc gia có thế mạnh về sản xuất nông sản và thực phẩm như Việt Nam.
Nắm bắt xu hướng này, cộng đồng doanh nghiệp trong nước đã có sự chuyển biến rõ rệt. Thay vì xem chứng nhận Halal là một điều kiện kỹ thuật để hàng hóa Việt Nam tiếp cận thị trường Halal, thì ngày nay, nhiều doanh nghiệp đã lựa chọn chứng nhận Halal là một trong những bước đi dài hạn, bền vững.
Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, bà Hương Nguyễn - Chủ tịch HĐTV Công ty TNHH HR Essence - doanh nghiệp vừa có thêm 3 sản phẩm đạt chứng nhận Halal cho rằng, chứng nhận Halal đã mở thêm cánh cửa để các sản phẩm cà phê, ngũ cốc của Việt Nam nói chung có cơ hội thâm nhập sâu hơn vào thị trường quốc tế.
Theo bà Hương Nguyễn, để mở rộng thị trường đầu ra cho sản phẩm, doanh nghiệp đã chủ động kết nối, tìm hiểu các quy định về Halal để từ đó đầu tư công nghệ, hạ tầng đáp ứng nhu cầu của thị trường nhập khẩu. Chứng nhận Halal không chỉ là cơ hội, mà còn là thách thức buộc doanh nghiệp phải hoàn thiện toàn bộ chuỗi giá trị, từ nguyên liệu, quy trình sản xuất đến quản trị chất lượng, nhằm tạo ra giá trị thực cho người tiêu dùng.
Bà Auji Nabilah Binti Abdul Razak, Bí thư thứ nhất, Đại sứ quán Malaysia tại Việt Nam chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương.
Nhìn từ góc độ thị trường, thông tin tới phóng viên Báo Công Thương, bà Auji Nabilah Binti Abdul Razak, Bí thư thứ nhất, Đại sứ quán Malaysia tại Việt Nam cũng cho rằng, Malaysia là thị trường tiêu dùng có sức mua tốt, nhu cầu đa dạng, mức độ mở cửa cao và ít rào cản đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam nhờ cùng tham gia nhiều hiệp định trong khuôn khổ ASEAN và ASEAN+.
Không chỉ là thị trường tiêu thụ, Malaysia còn đặt mục tiêu trở thành trung tâm Halal toàn cầu vào năm 2030, với định hướng nâng tỷ trọng đóng góp của ngành Halal lên 11% GDP và giá trị GDP Halal dự báo đạt 58,5 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng kép hàng năm khoảng 5,8%.
Trong bối cảnh đó, tiềm năng hợp tác giữa Việt Nam và Malaysia trong lĩnh vực Halal được đánh giá là rất lớn, đặc biệt khi Việt Nam đã có Trung tâm Chứng nhận Halal quốc gia - đầu mối quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận tiêu chuẩn Halal được công nhận quốc tế.
Cần chiến lược bài bản
Tương tự Malaysia, từ Indonesia, ông Phạm Thế Cường, Tham tán thương mại, Thương vụ Việt Nam tại đây cũng cho biết, Indonesia là quốc gia có số lượng dân số Hồi giáo lớn nhất thế giới với hơn 244,7 triệu người, chiếm 87,2% tổng dân số. Tốc độ tăng dân số hàng năm khá cao, bình quân khoảng 1,1%/năm. Đặc biệt, tầng lớp trung lưu với khoảng 50 triệu người đang gia tăng nhanh, tạo động lực thúc đẩy tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế.
Indonesia có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao và ổn định, góp phần thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng và nhập khẩu, trong đó có các sản phẩm Halal. Giá trị tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ halal tại đất nước này rất lớn, ước đạt khoảng 330,5 tỷ USD vào năm 2025.
Cùng với quy mô lớn, thị trường Indonesia dễ tính hơn so với Hoa Kỳ, EU hay Nhật Bản, văn hóa Á Đông gần gũi giúp doanh nghiệp Việt dễ tiếp cận. Khoảng cách địa lý gần giúp giảm chi phí vận chuyển, tăng sức cạnh tranh hàng hóa. Indonesia là thành viên ASEAN, được hưởng thuế quan ưu đãi nội khối và các FTA khu vực như RCEP.
Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm Halal của Việt Nam sang Indonesia ước đạt khoảng 54 triệu USD năm 2024, chiếm chưa đến 1% tổng kim ngạch xuất khẩu sang Indonesia và rất nhỏ so với tổng nhập khẩu sản phẩm halal Indonesia (14 tỷ USD).
Chính vì vậy, cơ hội để sản phẩm Halal Việt Nam thâm nhập vào thị trường này là rất lớn. Song, để thâm nhập thành công, doanh nghiệp cần quyết tâm cao, đầu tư tập trung nguồn lực (con người, tài chính) và xây dựng chiến lược bài bản. Cải thiện chất lượng và độ an toàn của sản phẩm Halal là yếu tố quan trọng để giành được lòng tin người tiêu dùng Indonesia.
Doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu các quy định Halal tại website chính thức của Cơ quan Bảo đảm các sản phẩm Halal Indonesia (BPJPH) hoặc qua cơ quan thương vụ, đồng thời chủ động xin cấp chứng nhận Halal. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, doanh nghiệp nước ngoài luôn xin chứng nhận Halal Indonesia trước khi tiếp cận nhà nhập khẩu và phân phối. Có chứng nhận Halal là lợi thế cạnh tranh quan trọng.
Cùng với đó, việc liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp ngành Halal phát triển, đặc biệt tại Indonesia, sẽ nâng cao nhận thức về tiêu chuẩn Halal và gia tăng cơ hội xuất khẩu. Điều này còn giúp hình thành chuỗi cung ứng khép kín từ nguyên liệu đến sản xuất, phân phối theo tiêu chuẩn Halal.
Cũng đưa ra khuyến nghị, ông Ngô Quang Hưng - Bí thư Thứ nhất, Thương vụ Việt Nam tại Malaysia cho rằng, doanh nghiệp xuất khẩu trong nước cần sớm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và các quy định liên quan đến Halal; thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam với các đối tác Hồi giáo và phi Hồi giáo; tăng cường xúc tiến, quảng bá sản phẩm Halal; hỗ trợ và kết nối doanh nghiệp, địa phương với các đối tác và thị trường Halal toàn cầu.