Đóng

Hồ chứa thuỷ điện thực hiện tốt chức năng giảm lũ cho hạ du

Tọa đàm “Thủy điện và bài toán phát triển bền vững hậu bão lũ lịch sử”, nhiều chuyên gia cho rằng, thuỷ điện vẫn thực hiện tốt chức năng giảm lũ cho hạ du.

Ngày 6/2, tại phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, Báo Tiền Phong tổ chức buổi Tọa đàm “Thủy điện và bài toán phát triển bền vững hậu bão lũ lịch sử”. Tham dự có đại diện các cơ quan bộ, ngành, Trung ương, địa phương.

Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến - Phó Tổng biên tập Báo Tiền Phong chủ trì tọa đàm. Ảnh: Vũ Long

Hồ chứa thực hiện tốt chức năng giảm lũ cho hạ du

Theo ông Nguyễn Tài Sơn - phụ trách Ban An toàn đập, Hội Đập lớn Việt Nam, ở miền Bắc có hệ thống sông Đà thuận lợi cho các hồ chứa khổng lồ (như Sơn La, Hòa Bình), nên khả năng chống lũ tốt hơn. Trong khi đó, ở miền Trung có địa hình hẹp, dốc, sông ngắn. Điều này khiến việc xây dựng hồ chứa lớn cực kỳ khó khăn.

Ông Sơn viện dẫn, tại lưu vực sông Ba (thuộc phía đông tỉnh Đắk Lắk), dù có hệ thống 11 bậc thang thủy điện (có 11 công trình thuỷ điện trên sông Ba) nhưng tổng dung tích phòng lũ rất hạn chế, chỉ khoảng 165 triệu m3. Khi gặp những trận lũ cực đoan vừa qua, với lượng nước trút xuống lên tới hàng tỷ m3 (khoảng 3 tỷ m3), khiến các hồ chứa này nhanh chóng rơi vào tình trạng quá tải năng lực. Lúc này, việc xả lũ là bắt buộc để đảm bảo an toàn đập.

Ông Nguyễn Tài Sơn - phụ trách Ban An toàn đập, Hội Đập lớn Việt Nam. Ảnh: Vũ Long

Theo ông Sơn, cần có cái nhìn đúng đắn về bản chất dòng chảy. Cụ thể, việc nhiều hồ cùng xả trên một lưu vực không tạo ra nhiều trận lũ khác nhau, mà đó là một trận lũ chung đang vận động qua các cấp bậc thang. Thực tế, các hồ chứa vẫn thực hiện tốt chức năng giảm lũ cho hạ du. Minh chứng là đợt lũ sông Ba vừa qua đã được cắt giảm tới 2.400 m3/s lưu lượng đỉnh. Tuy nhiên, dù quy trình vận hành liên hồ được thực thi chặt chẽ đến đâu, thì nó vẫn khó có thể bao quát hết những kịch bản thiên tai khốc liệt và cực đoan, đòi hỏi phải có sự điều chỉnh để thích ứng với tình hình khí hậu mới.

Để cải thiện tình hình, ông Sơn đề xuất ba nhóm giải pháp chính, trong đó tập trung rà soát, kiểm tra lại kết cấu các công trình theo tiêu chuẩn mới để xem xét nâng mực nước dâng bình thường. Việc này có thể giúp huy động thêm khoảng 100 triệu m3 dung tích cắt lũ mà không cần xây mới.

Chúng tôi ủng hộ mô hình xây dựng nhà trong Chiến dịch Quang Trung vừa qua. Đó là có cái 'chòi tránh lũ' tại chỗ cho người dân. Trong điều kiện lũ về nhanh, thời gian di cư không đủ, các điểm cao an toàn tại địa phương là giải pháp thiết thực nhất để bảo vệ tính mạng”, ông Nguyễn Tài Sơn nói.

Nghịch lý lượng mưa với dung tích hồ chứa

Tại buổi tọa đàm, bà Trần Thị Thu Hằng - Trưởng phòng Lưu vực sông Hồng - Thái Bình, Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, trong những năm qua, công tác vận hành liên hồ chứa tại miền Trung luôn đặt tiêu chí an toàn công trình và giảm lũ cho hạ du lên hàng đầu. Tuy nhiên, thực tế đợt lũ từ ngày 16 đến 21/11/2025 vừa qua tại lưu vực sông Ba đã bộc lộ những thách thức cực lớn do diễn biến thời tiết quá dị thường, vượt xa các kịch bản tính toán thông thường. Cụ thể, chỉ trong 5 ngày, lượng mưa ghi nhận được dao động từ 1.000 đến 1.800 mm. Tổng lượng nước đổ về các hồ chứa trên toàn lưu vực đạt khoảng 4,27 tỷ m3. Riêng hồ thủy điện Sông Ba Hạ phải hứng chịu tới 3 tỷ m3 nước.

Bà Trần Thị Thu Hằng - Trưởng phòng Lưu vực sông Hồng - Thái Bình, Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chia sẻ tại tọa đàm. Ảnh: Vũ Long

“Dù các hồ chứa đã nỗ lực vận hành để cắt giảm lũ, nhưng khả năng điều tiết thực tế lại rất hạn chế so với sức tàn phá của thiên nhiên. Theo phân tích, nếu đưa mực nước hồ xuống tận mức nước chết, dung tích trống tạo ra cũng chỉ đạt khoảng 165 triệu m³. Khi so sánh con số 165 triệu m³ này với tổng lượng lũ 3 tỷ m³ đổ về, chúng ta thấy một khoảng cách quá lớn, đó là khả năng cắt lũ của hồ chỉ chiếm xấp xỉ hơn 3%...”, bà Trần Thị Thu Hằng nói.

Để ứng phó với tình hình thời tiết ngày càng khắc nghiệt, theo bà Trần Thị Thu Hằng, trong thời gian tới không thể chỉ dựa duy nhất vào quy trình vận hành hồ chứa (vốn chỉ là 1 trong 4 giải pháp) mà cần rà soát, điều chỉnh các quy định theo hướng ưu tiên tối đa dung tích hữu ích để cắt lũ, dựa trên các kịch bản biến đổi khí hậu mới nhất.

Cùng với đó, xây dựng hệ thống hỗ trợ vận hành hồ chứa trên nền tảng số, tích hợp mô hình toán để đưa ra quyết định kịp thời, chính xác. Ngoài ra, kết hợp vận hành hồ với việc củng cố đê điều, nạo vét dòng chảy hạ du và nâng cao năng lực ứng phó tại chỗ của người dân.

“Quan trọng nhất, cả chính quyền và người dân cần loại bỏ tâm lý chủ quan. Trước mỗi mùa mưa lũ, việc chuẩn bị phương tiện cứu hộ và diễn tập các phương án ứng phó là yêu cầu bắt buộc để giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản”, bà Trần Thị Thu Hằng cho biết thêm.

Cũng tại buổi tọa đàm, đã có nhiều ý kiến của chuyên gia, lãnh đạo Sở Công Thương Đắk Lắk, Khánh Hoà, Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk, Công ty Thuỷ điện Buôn Kuốp, Đài khí tượng thuỷ văn Quốc gia...

Ông Nguyễn Văn Nhiệm – Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Đắk Lắk chia sẻ tại tọa đàm. Ảnh: Vũ Long

Theo ông Nguyễn Văn Nhiệm – Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Đắk Lắk, thời gian tới, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong cung cấp thông tin về mưa lũ cho người dân. Để thực hiện được điều đó, các nhà máy thủy điện phải phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý nhà nước để truyền tải thông tin nhanh chóng, kịp thời từ cấp xã đến thôn, buôn, giúp người dân chủ động phòng, chống và giảm thiểu thiệt hại.

Vũ Long