Dư địa lớn từ sức mua trong nước
Trong những năm gần đây, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng luôn duy trì tăng trưởng ổn định. Kết quả này cho thấy, sức mua nội địa tiếp tục duy trì đà tăng. Đằng sau đó là một thị trường hơn 100 triệu dân với nhu cầu ngày càng đa dạng, từ hàng hóa thiết yếu đến dịch vụ, du lịch, giải trí. Đây không chỉ là một thị trường tiêu thụ lớn mà đang được nhìn nhận như một điểm tựa quan trọng cho tăng trưởng trong giai đoạn mới.
Trong bối cảnh nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số, khai thác hiệu quả thị trường nội địa đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Theo các chuyên gia, lợi thế trước hết nằm ở quy mô. Việt Nam có hơn 100 triệu dân, trong khi tiêu dùng cuối cùng giai đoạn 2021 - 2025 chiếm khoảng 62 - 65% GDP; riêng tiêu dùng hộ gia đình chiếm khoảng 53 - 55%. Đây là nền tảng quan trọng để thị trường trong nước trở thành một động lực tăng trưởng, đồng thời tạo sức chống chịu cho nền kinh tế trước những biến động từ bên ngoài.
Hàng Việt Nam được người tiêu dùng trong nước ưa chuộng.
Thực tế những tháng đầu năm 2026 cho thấy, thị trường tiếp tục tăng trưởng. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8/2026 ước đạt 679,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng tới 14,9% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 8 tháng, con số này đạt 5.235,5 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3%, bước đầu đạt mục tiêu tăng trưởng 13 - 15% đặt ra cho năm 2026.
Thực tế, việc phát triển hàng Việt hiện nay đã có những chuyển biến đáng kể. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước - Bộ Công Thương chia sẻ, hàng Việt ngày càng phong phú, đa dạng, chất lượng được nâng cao, bao bì và mẫu mã cũng ngày càng hiện đại, chuyên nghiệp. Tuy nhiên, hạn chế lớn vẫn là quy mô sản xuất nhỏ. Khi đơn hàng tăng hoặc doanh nghiệp muốn đưa sản phẩm vào hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, khả năng mở rộng sản xuất và bảo đảm nguồn cung ổn định vẫn là thách thức.
Cùng với đó là bài toán thương hiệu. Một sản phẩm tốt chưa đồng nghĩa với một sản phẩm bán chạy. Nếu doanh nghiệp không làm tốt marketing, định vị thương hiệu và tiếp cận đúng khách hàng, sản phẩm vẫn khó cạnh tranh ngay trên thị trường trong nước.
Đáng chú ý, hệ thống phân phối cũng đang là một điểm nghẽn. Hàng Việt có chất lượng, giá cả phù hợp, chi phí vận chuyển trong nhiều trường hợp thấp hơn nhưng vẫn có thể yếu thế trước các thương hiệu và nhà phân phối nước ngoài. Nhiều doanh nghiệp nhỏ khó tiếp cận hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại lớn.
Từ “sân nhà” đến sức mạnh tăng trưởng
Một trong những hướng đi được đặt ra là hiện đại hóa mạng lưới bán lẻ và đa dạng hóa mô hình phân phối. Hệ thống phân phối cần chuyển dịch mạnh sang các loại hình hiện đại, đồng thời nâng cấp chợ truyền thống, phát triển các mô hình chợ thông minh và những điểm bán phù hợp với điều kiện thực tế.
Cùng với đó là phát triển thương mại điện tử và chuyển đổi số. Với doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh, hợp tác xã và nông dân, nền tảng số có thể mở ra cơ hội tiếp cận thị trường nhanh hơn so với việc phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống phân phối truyền thống.
Thị trường trong nước là động lực quan trọng cho hàng Việt.
Thông tin đến phóng viên Báo Công Thương, bà Patricia Marques, Tổng giám đốc Phúc Long Heritage cho biết, doanh thu thuần 7 tháng đầu năm 2026 của Phúc Long đạt 1.304 tỷ đồng, tăng 27% so với cùng kỳ, cho thấy dư địa đáng kể của thị trường tiêu dùng trong nước và cơ hội để các doanh nghiệp tiếp tục đầu tư, mở rộng hoạt động ngay trên “sân nhà”.
Do đó, mục tiêu của Phúc Long trong năm 2026 là tiếp tục mở rộng hệ thống phân phối, gia tăng độ phủ tại thị trường trong nước. Mới đây, Phúc Long đã đưa cửa hàng Phúc Long Hoàn Kiếm - cửa hàng thứ 36 tại Hà Nội - vào hoạt động, nâng tổng số cửa hàng trên toàn quốc lên 250. Phúc Long đang bám sát kế hoạch mở thêm 80-85 cửa hàng trong năm 2026, tập trung tăng tốc trong nửa cuối năm nhằm mở rộng thị trường và thúc đẩy tiêu dùng hàng hóa trong nước.
Mục tiêu đặt ra cho giai đoạn 2026-2030 là tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 14 - 15%/năm, thương mại điện tử tăng trưởng bình quân 23 - 25%/năm, đồng thời giảm chi phí logistics xuống khoảng 12 - 15% GDP. Đây là những mục tiêu lớn, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa nhiều ngành, lĩnh vực.
Theo TS. Lê Quốc Phương, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm thông tin Công nghiệp và Thương mại - Bộ Công Thương, không chỉ các đô thị lớn, thị trường nông thôn, miền núi, biên giới và hải đảo cũng cần được xem là những không gian tăng trưởng mới. Việc phát triển các mô hình bán lẻ linh hoạt, điểm bán hàng, chợ đa năng và hạ tầng thương mại thiết yếu sẽ giúp mở rộng khả năng tiếp cận hàng hóa của người dân, đồng thời mở thêm đầu ra cho sản phẩm địa phương.
Đặc biệt, các sản phẩm OCOP cần được đặt trong tư duy thương mại hóa. Sản phẩm không chỉ dừng ở chứng nhận hay trưng bày mà phải có sản lượng, quy mô và giá trị thương mại đủ lớn để phục vụ quảng bá, tiêu thụ. Một động lực khác là du lịch và kinh tế ban đêm. Khi xúc tiến du lịch được gắn với xúc tiến thương mại, đầu tư, văn hóa và dịch vụ, mỗi dòng khách du lịch cũng trở thành một dòng sức mua. Ẩm thực, sản phẩm văn hóa, hàng hóa địa phương và dịch vụ có thể cùng tạo thành chuỗi giá trị tiêu dùng mới.
Ở chiều ngược lại, để người dân sẵn sàng chi tiêu, thị trường phải bảo đảm chất lượng và sự minh bạch. Hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại và hàng kém chất lượng, đặc biệt trên môi trường thương mại điện tử, không chỉ xâm hại quyền lợi người tiêu dùng mà còn làm suy giảm niềm tin đối với hàng hóa trong nước.
Bởi vậy, chống hàng giả cũng chính là bảo vệ sức mạnh của thị trường nội địa. Việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, truy xuất nguồn gốc trong kiểm tra, giám sát sẽ ngày càng quan trọng.
Từ góc độ chính sách, Nghị quyết số 88/NQ-CP về thúc đẩy phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng, đẩy mạnh Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đặt ra yêu cầu triển khai các chương trình kích cầu theo hướng thực chất, hiệu quả. Người tiêu dùng cần được biết rõ công dụng, chất lượng và giá cả sản phẩm để đưa ra lựa chọn. Đó cũng là bước chuyển quan trọng: từ “vận động người Việt dùng hàng Việt” sang xây dựng năng lực để hàng Việt đủ sức thuyết phục người Việt.
Thị trường 100 triệu dân là một lợi thế lớn. Nhưng lợi thế chỉ trở thành sức mạnh khi hàng hóa Việt Nam có đủ chất lượng, quy mô, thương hiệu, hệ thống phân phối và chi phí cạnh tranh để chinh phục chính thị trường của mình.