Khơi thông động lực tăng trưởng
Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2026 của Cục Thống kê (Bộ tài chính), chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 11,4% so với cùng kỳ, mức cao nhất của 7 tháng trong nhiều năm gần đây; vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước tăng 18,4%; tổng vốn FDI đăng ký đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58%; vốn FDI thực hiện đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,1%; thu ngân sách nhà nước đạt 72,5% dự toán năm. Những chỉ số này cho thấy các động lực tăng trưởng truyền thống đang tiếp tục được khơi thông, đồng thời phản ánh sự cải thiện của môi trường đầu tư, kinh doanh và sức cầu của nền kinh tế.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, Nhà giáo ưu tú, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, chuyên gia kinh tế, giảng viên cao cấp Học viện Tài chính cho rằng, những kết quả đạt được trong 7 tháng đầu năm 2026 cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang duy trì được đà tăng trưởng khá tích cực. Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở tốc độ tăng của một vài chỉ tiêu, mà là sự cải thiện tương đối đồng đều ở nhiều khu vực quan trọng của nền kinh tế.
Nhà giáo ưu tú, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, chuyên gia kinh tế, giảng viên cao cấp Học viện Tài chính.
Theo PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, về công nghiệp, đặc biệt công nghiệp chế biến, chế tạo. Việc khu vực này tiếp tục duy trì tốc độ tăng hai con số rất có ý nghĩa, bởi đây là lĩnh vực có khả năng tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kéo theo nhiều ngành sản xuất, dịch vụ khác phát triển.
Ngoài ra, về đầu tư, việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công không chỉ tạo ra tăng trưởng trực tiếp mà còn có tác dụng dẫn dắt, kích thích đầu tư tư nhân và tạo thêm năng lực mới cho nền kinh tế. Khi các dự án giao thông, năng lượng, logistics và hạ tầng số được hoàn thành, chi phí của doanh nghiệp sẽ giảm xuống, khả năng kết nối thị trường tốt hơn và không gian phát triển cũng được mở rộng.
PGS.TS Đinh Trọng Thịnh nhận định, vấn đề quan trọng trong thời gian tới là phải biến những động lực mang tính thúc đẩy trước mắt thành năng lực tăng trưởng dài hạn. Đầu tư công phải tạo ra hạ tầng và năng lực sản xuất mới; FDI phải tạo ra liên kết và chuyển giao công nghệ; xuất khẩu phải nâng dần tỷ trọng giá trị gia tăng trong nước…
Cùng với đó, cải cách thể chế cần tiếp tục được đẩy mạnh theo hướng thực chất, tạo môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, ổn định và thuận lợi hơn. Việc tháo gỡ những điểm nghẽn về thủ tục, đất đai, vốn, hạ tầng và cơ chế thực thi sẽ giúp giải phóng các nguồn lực đang nằm trong nền kinh tế, đồng thời củng cố niềm tin để doanh nghiệp mạnh dạn mở rộng đầu tư, sản xuất.
Đặc biệt, khu vực kinh tế tư nhân cần được tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn, bởi đây là khu vực có khả năng huy động nguồn lực rất lớn trong xã hội. Theo PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, cần bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng, mở rộng khả năng tiếp cận vốn và đất đai, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Tạo động lực cho tăng trưởng dài hạn
Trong khi đó, theo TS. Chử Lan Phương, Luật sư điều hành Công ty Luật CEVEN LAW, Việt Nam đang có những nền tảng thuận lợi để tiến gần hơn tới mục tiêu tăng trưởng cao. Nền kinh tế tiếp tục duy trì sức hút đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài, trong khi sản xuất công nghiệp giữ đà tăng trưởng hai con số, qua đó tạo động lực quan trọng cho xuất khẩu. Cùng với đó, tiêu dùng hộ gia đình tiếp tục cải thiện, với mức tăng, góp phần củng cố sức cầu trong nước.
Những tín hiệu tích cực của kinh tế 7 tháng đầu năm 2026 đang tạo thêm thế và lực để Việt Nam tăng tốc, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Đáng chú ý, những động lực kinh tế đang được hỗ trợ bởi quá trình cải cách và hoàn thiện thể chế. Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân đã đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ về đất đai, tài chính, thuế, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hạ tầng. Đồng thời, Nghị quyết số 198 cũng hướng tới giảm chi phí, thời gian tuân thủ, tạo thêm dư địa để doanh nghiệp huy động nguồn lực và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Cùng với đó, Luật Đầu tư số 143/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động đầu tư trong nước và nước ngoài, góp phần tạo môi trường đầu tư minh bạch, thuận lợi và ổn định hơn.
Ở khu vực FDI, Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục thể hiện định hướng chuyển mạnh từ thu hút vốn sang nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư. Trọng tâm không chỉ là thu hút thêm các dự án mới mà còn tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và nâng cao khả năng tham gia của Việt Nam trong các chuỗi giá trị, mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Theo TS. Chử Lan Phương, nếu những cải cách này được triển khai đồng bộ và đi vào thực chất, thể chế sẽ không chỉ đóng vai trò tháo gỡ điểm nghẽn mà còn trở thành một động lực tăng trưởng. Qua đó, nguồn lực của khu vực tư nhân và FDI có thể được khai thác hiệu quả hơn, tạo thêm nền tảng để Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong trung và dài hạn.
Đánh giá về những giải pháp chính sách cần ưu tiên trong những tháng còn lại của năm 2026 để vừa hoàn thành mục tiêu tăng trưởng, vừa tạo thế và lực cho giai đoạn tăng trưởng hai con số, TS. Chử Lan Phương cho rằng, trước hết cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Trọng tâm là đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian cấp phép, cắt giảm những điều kiện kinh doanh không cần thiết, đồng thời nâng cao tính ổn định và khả năng dự báo của chính sách.
TS. Chử Lan Phương, luật sư điều hành Công ty Luật CEVEN LAW.
Theo đại diện CEVEN LAW, một trong những vấn đề đáng chú ý là cần phát huy tốt hơn vai trò của chính sách thuế như một công cụ hỗ trợ và dẫn dắt tăng trưởng. Bên cạnh đơn giản hóa thủ tục thuế, cần tạo thuận lợi cho dòng tiền của doanh nghiệp, khuyến khích tái đầu tư, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và nghiên cứu, phát triển (R&D).
Nghị quyết số 198/2025/QH15 đã đưa ra những cơ chế đáng chú ý khi cho phép doanh nghiệp trích tối đa 20% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời có cơ chế đối với chi phí R&D khi xác định thu nhập chịu thuế theo quy định.
“Đây là sự thay đổi đáng chú ý về tư duy chính sách, từ việc coi thuế chủ yếu là công cụ tạo nguồn thu sang phát huy vai trò của thuế trong khuyến khích dòng vốn đầu tư vào công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất”, TS. Chử Lan Phương nhận định.
Nếu được triển khai hiệu quả, các chính sách này không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp trong ngắn hạn mà còn góp phần thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng, từ dựa nhiều vào vốn và lao động sang dựa nhiều hơn vào công nghệ, năng suất và giá trị gia tăng. Theo đại diện CEVEN LAW, đây cũng là ý nghĩa quan trọng của cải cách chính sách thuế khi vừa bảo đảm nguồn thu ngân sách, vừa tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư cho tương lai.
Cùng với đó, Việt Nam cần tiếp tục chuyển mạnh từ thu hút FDI về số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả. Trọng tâm là lựa chọn các dự án có công nghệ cao, năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng chuyển giao công nghệ và tạo liên kết với doanh nghiệp trong nước, qua đó nâng cao vị trí của Việt Nam trong các chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Cũng theo TS. Chử Lan Phương, một nhiệm vụ quan trọng khác là tiếp tục đầu tư đồng bộ hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng và hạ tầng số. Hạ tầng được cải thiện sẽ góp phần giảm chi phí sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo niềm tin để doanh nghiệp, nhà đầu tư triển khai các kế hoạch dài hạn.
Với những nền tảng tích cực đã tạo dựng, cùng quyết tâm cải cách thể chế, khơi thông nguồn lực và thúc đẩy đầu tư, Việt Nam đang có thêm dư địa để tăng tốc trong những tháng cuối năm, qua đó tạo thế và lực vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới.