Đóng

Không để lãng phí điện ở vành đai công nghiệp miền Trung: Kỳ 5 - Đánh thức những kilowatt ngủ quên: một nhiệt kế cho cả vành đai

Bốn kỳ trước đã đo đếm phần năng lượng đang ngủ quên dọc vành đai công nghiệp miền Trung, gọi tên những đầu tàu biết tự đánh thức, và chỉ ra sức ép sống còn từ hàng rào carbon. Kỳ kết đặt câu hỏi khó nhất: đánh thức bằng cách nào, ai trả tiền, lấy gì đo đếm? Lời giải không nằm ở một nhà máy hay một tỉnh, mà ở một bộ công cụ chính sách, tài chính, kỹ thuật và minh bạch dữ liệu, đủ sức biến tiết kiệm năng lượng từ phong trào mùa vụ thành một chỉ số quốc gia có thể chấm điểm từng năm.

Loạt bài này khởi đầu bằng một nghịch lý. Vành đai công nghiệp ven biển miền Trung, nơi hai tổ hợp lọc dầu Dung Quất và Nghi Sơn chiếm khoảng 70% công suất lọc dầu quốc gia, nơi riêng Formosa Hà Tĩnh tiêu thụ khoảng 3,68 triệu TOE mỗi năm và 44 cơ sở trọng điểm của Thanh Hóa ngốn hơn 7,38 triệu TOE, lại đang để rơi một phần năng lượng đáng kể. Công nghiệp chiếm khoảng 51,9% tổng tiêu thụ năng lượng cả nước, dư địa tiết kiệm phổ biến 20 đến 35% tùy ngành. Đó chính là khối kilowatt ngủ quên mà tuyến bài đặt tên.

Vài đầu tàu đã chứng minh phần năng lượng ấy đánh thức được, và đo đếm được bằng tiền. Thép Hòa Phát Dung Quất tự chủ trên 90% điện nhờ phát điện nhiệt dư, tiết kiệm hơn 4.000 tỷ đồng. Lọc dầu BSR áp dụng ISO 50001, kéo chỉ số hiệu quả năng lượng EII từ trên 118% về quanh mốc 100% của chuẩn quốc tế, tiết kiệm hơn 600 tỷ đồng mỗi năm. Cụm xi măng Long Sơn, Sông Lam, Tân Thắng, Đồng Lâm phát điện nhiệt dư đáp ứng 25 đến 40% nhu cầu điện nội bộ. Nhưng điển hình tốt vẫn là điển hình lẻ. Câu hỏi của kỳ kết là làm sao để cái riêng lẻ ấy thành chuẩn mực chung của cả vùng.

 Những đầu tàu công nghiệp miền Trung tại Khu kinh tế Dung Quất (Quảng Ngãi).

Kinh nghiệm quốc tế chỉ ra: muốn nhân rộng thì phải đặt được một chuẩn mực biết tự nâng, và một thước đo công khai để không ai đứng ngoài. Nhật Bản làm điều đó bằng chương trình Top Runner (cơ chế chuẩn tự nâng), lấy sản phẩm hiệu quả nhất trên thị trường làm mốc bắt buộc cho cả ngành. Kết quả, tỷ lệ đạt chuẩn ở một số nhóm sản phẩm tăng từ 11% năm 1997 lên hơn 90% năm 2008. Một chuẩn mực được thiết kế đúng có thể kéo cả thị trường đi theo người dẫn đầu, thay vì chờ kẻ chậm nhất.

Theo đại diện Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, Bộ Công Thương, để nhân rộng các mô hình đầu tàu ra toàn vành đai công nghiệp miền Trung, việc kết hợp giữa chính sách khuyến khích và chế tài bắt buộc là hết sức cần thiết. Về mặt chính sách, cần tập trung nâng cao hiệu suất năng lượng tối thiểu (MEPS), thúc đẩy đổi mới công nghệ và khuyến khích doanh nghiệp tăng cường đầu tư nghiên cứu, phát triển các giải pháp hiệu suất cao. Việc công khai, minh bạch thông tin về hiệu suất năng lượng sẽ là động lực để doanh nghiệp đổi mới quy trình. Đồng thời, cần tạo hành lang cơ chế rõ ràng về tài chính, tín dụng xanh để tháo gỡ khó khăn về vốn đầu tư ban đầu cho doanh nghiệp.

Đối với ngành thép và xi măng, những lĩnh vực đặc biệt tiêu thụ nhiều năng lượng, việc tham khảo và nghiên cứu áp dụng cơ chế Top Runner theo kinh nghiệm quốc tế là một giải pháp rất đáng cân nhắc. Mô hình này không áp dụng thang phân hạng cố định mà lấy sản phẩm/công nghệ có hiệu suất năng lượng tốt nhất hiện có trên thị trường làm chuẩn tham chiếu. Dựa trên mốc này cùng dự báo tiến bộ công nghệ, cơ quan quản lý sẽ thiết lập mục tiêu hiệu suất năng lượng mới cho toàn ngành theo từng thời kỳ.

Tuy nhiên, để áp dụng Top Runner cho ngành thép và xi măng tại Việt Nam, cần có lộ trình rõ ràng. Trước hết, cần xây dựng và cập nhật hệ thống Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN), Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về hiệu suất năng lượng tiệm cận với các tiêu chuẩn tiên tiến của khu vực và thế giới. Sau đó, áp dụng lộ trình cho phép doanh nghiệp có khoảng thời gian chuyển tiếp thích hợp để điều chỉnh hoạt động đầu tư, nghiên cứu và cải tiến công nghệ trước khi chính thức biến các tiêu chuẩn tiên tiến này thành quy định bắt buộc cho toàn ngành.

Lời giải đầu tiên là chính sách, và nền pháp lý vừa được dựng lại đúng lúc. Luật số 77/2025/QH15 sửa đổi Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2025 với 425 trên 426 đại biểu tán thành, có hiệu lực từ 1/1/2026. Nghị định 30/2026/NĐ-CP ban hành ngày 21/1/2026 hướng dẫn thi hành, chốt lại ngưỡng cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm là cơ sở công nghiệp tiêu thụ từ 1.000 TOE mỗi năm trở lên, đồng thời yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt và công bố danh sách cơ sở trọng điểm trước ngày 31/3 hằng năm.

Việc cần làm ngay ở miền Trung là đưa các quy định mới này vào thực thi: hướng dẫn cụ thể tiêu chí, lộ trình kiểm toán năng lượng định kỳ, định mức tiêu hao theo ngành, và lồng yêu cầu giảm cường độ phát thải để đáp ứng CBAM vào quy hoạch, ưu đãi đầu tư các khu kinh tế Nghi Sơn, Dung Quất, Chu Lai.

Lời giải thứ hai là tài chính, mắt xích trước nay vẫn nghẽn. Luật 77/2025 lần đầu luật hóa hai công cụ then chốt: Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả theo hướng xã hội hóa, và mô hình công ty dịch vụ năng lượng ESCO với hợp đồng hiệu quả năng lượng cho phép doanh nghiệp không phải bỏ vốn đầu tư ban đầu.

Vướng mắc lâu nay là cơ chế thanh toán qua hóa đơn điện chưa được pháp luật cho phép, khiến ESCO ở Việt Nam có lúc bị nhìn nhận là đi "từ mô hình triển vọng thành khái niệm mơ hồ". Tháo đúng nút này, cộng với tín dụng xanh và cơ chế chia sẻ rủi ro để ngân hàng địa phương yên tâm cấp vốn, sẽ mở dòng tiền cho hàng trăm cơ sở vừa và nhỏ dọc vành đai.

Lời giải thứ ba là kỹ thuật, và phần lớn đã nằm trong tầm tay. Phổ cập kiểm toán năng lượng và ISO 50001 cho cơ sở trọng điểm có thể đạt mức tiết kiệm 10 đến 30% lượng tiêu thụ. Nhóm giải pháp suất đầu tư thấp, hoàn vốn nhanh đã được chứng minh hiệu quả: lắp biến tần cho động cơ, quạt, bơm, máy nén giúp giảm 20 đến 30% phụ tải tương ứng; chống rò rỉ khí nén; thu hồi nhiệt dư có thể tận dụng 50 đến 90% nhiệt thải; thay chiếu sáng LED. Cộng thêm điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu theo Nghị định 135/2024 đã mở cửa cho khu công nghiệp, miễn giấy phép và không giới hạn công suất với hệ tự dùng đủ điều kiện, cho phép bán dư tối đa 20% công suất lắp đặt.

Ông Nguyễn Văn Trừ, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP. Đà Nẵng cho rằng, mặc dù Luật 77/2025 và Nghị định 30/2026 đã có hiệu lực. Tuy nhiên, việc triển khai xuống cơ sở còn chậm. Phần nhiều doanh nghiệp chưa thực sự coi trọng và thực sự tìm hiểu mô hình ESCO, gặp khó về vốn đầu tư ban đầu. Bên cạnh đó, hiện Quỹ thúc đẩy tiết kiệm năng lượng vẫn đang trong giai đoạn được hình thành, do đó việc triển khai vẫn còn đang ở giai đoạn chờ đợi.

Lời giải thứ tư, và cũng là phần Báo Công Thương đề xuất là minh bạch dữ liệu. Suốt loạt bài, một khoảng trống lặp đi lặp lại: số liệu tiêu hao và tiết kiệm của từng nhà máy phần lớn nằm trong báo cáo nội bộ và phụ lục các quyết định cấp tỉnh, chưa được số hóa công khai.

Trong khi đó thế giới đã có cả một hệ sinh thái dữ liệu mở về năng lượng: Our World in Data của Đại học Oxford, Ember với công cụ phủ 215 quốc gia cập nhật hai lần mỗi tháng, IEA với bộ chỉ số hiệu quả năng lượng theo ngành. Khoảng trống ở Việt Nam vừa là điểm yếu, vừa là lý do tồn tại của một tuyến báo chí dữ liệu.

Từ đó hình thành hai sản phẩm đề xuất. Thứ nhất là "Nhiệt kế tiết kiệm năng lượng" cho vành đai miền Trung, một bản tin trực quan theo tín hiệu lưới, học theo EcoWatt của Pháp với hơn 430 đối tác ký hiến chương, Power Alert của Nam Phi phát trên bốn đài, và Flex Alert của Mỹ. Trước mắt có thể thử nghiệm trên dữ liệu phụ tải đỉnh miền Trung và Tây Nguyên, vốn lần đầu vượt mốc 100 triệu kWh mỗi ngày trong tháng 5 và tháng 6/2026, đạt 104,5 triệu kWh ngày 24/6/2026.

Thứ hai là một bảng xếp hạng tiết kiệm năng lượng cấp tỉnh và khu công nghiệp, mô phỏng cách ACEEE International Energy Efficiency Scorecard chấm điểm các nền kinh tế và bảng dữ liệu điện công khai của Ember, để tạo áp lực thi đua minh bạch giữa các địa phương.

Turbine phát điện từ nguồn hơi chưng cất Ethanol tại nhà máy Ethanol Quảng Nam.

Hai công cụ này không phải sáng kiến đơn lẻ mà gắn với một thông lệ quốc tế đã được kiểm chứng bằng con số. Tại Nhật, chiến dịch Cool Biz đạt tỷ lệ nhận biết 95,8% ngay năm đầu.

Tại Mỹ, nhãn ENERGY STAR đạt mức nhận biết khoảng 90% qua nhiều năm, với khoảng 1.800 nhà sản xuất và 1.200 nhà bán lẻ tự bỏ tiền quảng bá. Điểm chung: truyền thông tiết kiệm năng lượng chỉ bền khi trở thành một cấu phần chính sách đo lường được, có chỉ số nhận biết và bảng xếp hạng làm thước nghiệm thu, chứ không phải cổ động theo mùa nắng nóng. Một điều kiện sống còn đi kèm: khi chỉ số và bảng xếp hạng có sự tham gia tài trợ của ngành, dữ liệu phải giữ độc lập tuyệt đối để không mất uy tín.

Phòng điều độ hệ thống điện miền Trung 

Tất cả quy về một đích chung đã được ấn định. Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 đến 2030, gọi tắt VNEEP3, và Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Bộ Chính trị đã xác định mục tiêu tỷ lệ tiết kiệm năng lượng trên tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng so với kịch bản phát triển bình thường khoảng 8 - 10%.

Riêng địa bàn EVNCPC, nếu năm 2025 toàn EVNCPC tiết kiệm hơn 653 triệu kWh, tương đương 2,45% điện thương phẩm, thì chỉ 6 tháng đầu năm 2026, con số này đã là 979,6 triệu kWh, chiếm 6,78% sản lượng điện thương phẩm.

Và mục tiêu tiết kiệm 8 – 10% tổng năng lượng tiêu thụ sẽ đạt được nếu “đánh thức” phần kilowatt ngủ quên trong công nghiệp, khu vực chiếm hơn nửa tiêu thụ năng lượng quốc gia, hiện vẫn nằm yên.

Đại diện Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công cho rằng, để cụ thể hóa các mục tiêu lớn này xuống các địa phương và các cơ sở sản xuất công nghiệp, việc ban hành bộ chỉ tiêu/KPI tiết kiệm năng lượng gắn với trách nhiệm cụ thể là cơ chế rất cần thiết. Nếu không giao chỉ tiêu định lượng rõ ràng, mục tiêu tiết kiệm dễ dừng lại ở mức tuyên truyền chung chung mà thiếu đi tính thúc đẩy. Các chỉ tiêu này cần được lượng hóa dựa trên các công cụ hiện hành như: danh mục cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm, quy định mức hiệu suất năng lượng tối thiểu (MEPS), và các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng cho từng nhóm ngành.

Các hệ thống điện mặt trời mái nhà tại các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, khu kinh tế miền Trung.

Tuy nhiên, song song với giao chỉ tiêu hay bộ KPI xuống địa phương và doanh nghiệp, cần áp dụng một cơ chế tổng thể đồng bộ: Một là, kết hợp hài hòa giữa chế tài quản lý bắt buộc đối với các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm (yêu cầu thực hiện kiểm toán năng lượng, áp dụng hệ thống quản lý ISO 50001, tuân thủ định mức tiêu hao năng lượng) với các chính sách khuyến khích, tạo động lực đổi mới công nghệ. Hai là, đẩy mạnh công khai, minh bạch thông tin hiệu suất năng lượng và xếp hạng thi đua. Việc tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức phải đi liền với việc để doanh nghiệp thấy rõ lợi ích kinh tế (giảm chi phí điện, tăng sức cạnh tranh, vượt qua rào cản xanh CBAM) thay vì chỉ coi đó là nghĩa vụ thụ động.

Sự kết hợp đồng bộ giữa pháp lý minh bạch, bộ chỉ tiêu cụ thể và động lực thị trường chính là chìa khóa để hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết 70-NQ/TW và VNEEP 3 tại vành đai công nghiệp miền Trung.

Câu chuyện vì thế không dừng ở vành đai miền Trung. Nó nằm trong một định hướng lớn hơn: Nghị quyết 70-NQ/TW về định hướng phát triển năng lượng quốc gia và Kết luận 14-KL/TW của Bộ Chính trị đặt tiết kiệm, sử dụng hiệu quả năng lượng thành một trụ cột của an ninh năng lượng và phát triển bền vững. Miền Trung, với mật độ cơ sở phát thải cao và sức ép xuất khẩu từ CBAM hiện hữu, là nơi phép thử ấy gắt gao nhất, và cũng là nơi lời giải nếu thành công sẽ có sức lan tỏa nhất.

Đánh thức những kilowatt ngủ quên, suy cho cùng, không phải bài toán của riêng một nhà máy biết làm hay một tỉnh đi trước. Đó là bài toán của cả một thể chế: một bộ luật vừa mới hiệu lực phải đi được vào đời sống, một dòng vốn phải khơi thông tới tận cơ sở vừa và nhỏ, một bộ giải pháp kỹ thuật phải được phổ cập, và một tấm nhiệt kế dữ liệu công khai để cả nước cùng nhìn thấy chỗ nào đang nóng, chỗ nào còn lạnh. Khi bốn mắt xích ấy khớp vào nhau, phần năng lượng đang ngủ quên dọc dải đất hẹp miền Trung sẽ thức dậy, và trở thành một phần lời giải cho bài toán năng lượng của cả quốc gia trên đường tới năm 2030.

Nhóm PV Văn phòng miền Trung - Thiết kế: Hương Giang