Đóng

Không gian tầm thấp: Động lực mới thúc đẩy phát triển kinh tế

Kết luận 99-KL/TW của Bộ Chính trị đặt nền móng để khai thác không gian tầm thấp thành nguồn lực phát triển mới, gắn tăng trưởng kinh tế với tự chủ công nghệ và bảo vệ chủ quyền.

Dư địa đã mở

Trong nhiều năm, không gian tầm thấp chủ yếu được tiếp cận dưới góc độ quản lý vùng trời, an toàn hàng không, quốc phòng và an ninh, bởi đây vốn là khu vực gắn chặt với chủ quyền quốc gia và những yêu cầu kiểm soát đặc biệt. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của thiết bị bay không người lái, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật, viễn thông thế hệ mới và công nghệ điều khiển tự động đang làm thay đổi cách nhìn ấy, đưa một khoảng không vốn thiên về quản lý trở thành khu vực có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, hình thành dịch vụ mới và tham gia trực tiếp vào nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Nông dân An Giang sử dụng drone trong sản xuất nông nghiệp.

Kinh tế không gian tầm thấp vì vậy không nên được hiểu đơn giản là câu chuyện của drone hay UAV, bởi phía sau phương tiện bay còn cả chuỗi công nghệ và dịch vụ gồm thiết kế, chế tạo, vật liệu, pin, cảm biến, chip, hệ thống điều khiển, định vị, truyền dữ liệu, bản đồ số, phần mềm quản lý bay… Chính sự kết nối giữa phương tiện bay với trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, dữ liệu lớn, hạ tầng viễn thông 5G/6G và nền tảng quản lý không lưu mới tạo nên một hệ sinh thái đủ sức hình thành giá trị kinh tế trên quy mô lớn.

Tại Việt Nam, những ứng dụng đầu tiên đã xuất hiện khá rõ trong nông nghiệp, logistics, quản lý đô thị, năng lượng, môi trường…, dù phần lớn vẫn đang ở quy mô hạn chế hoặc trong giai đoạn thử nghiệm. Trong sản xuất nông nghiệp, drone được sử dụng để phun thuốc, giám sát cây trồng và hỗ trợ quản lý mùa vụ. Với logistics, thiết bị bay có thể vận chuyển hàng hóa, vật tư y tế hoặc tiếp cận những khu vực miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa mà hạ tầng mặt đất còn khó khăn; tại đô thị và các công trình hạ tầng, UAV có thể hỗ trợ giám sát giao thông, kiểm tra công trình, theo dõi lưới điện, môi trường và phục vụ phòng chống thiên tai. Kinh tế không gian tầm thấp khô…

Đối với giao thông và logistics, ý nghĩa của không gian tầm thấp còn nằm ở khả năng tạo thêm một tầng vận tải nằm giữa giao thông mặt đất và hàng không truyền thống, qua đó bổ sung phương thức giao nhận phù hợp với những đơn hàng có khối lượng nhỏ, yêu cầu tốc độ cao hoặc phải đi qua địa hình phức tạp, đồng thời mở ra khả năng kết nối tốt hơn giữa đô thị với vùng ngoại vi, vùng sâu, hải đảo và các khu vực khó tiếp cận bằng phương tiện thông thường.

Dù vậy, từ vài ứng dụng ban đầu đến việc hình thành một ngành kinh tế hoàn chỉnh vẫn còn khoảng cách đáng kể, bởi thể chế chưa đồng bộ, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các mô hình mới còn hạn chế, hạ tầng quản lý bay và dữ liệu chưa hoàn thiện, trong khi nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ UAV, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu không gian và điều phối bay thông minh còn thiếu. Năng lực làm chủ một số công nghệ lõi như pin, cảm biến, hệ điều hành bay và nền tảng điều phối cũng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển ở quy mô lớn.

Đừng bỏ lỡ cơ hội lớn

Nếu chỉ nhìn kinh tế không gian tầm thấp như một thị trường thiết bị bay, cơ hội sẽ bị thu hẹp rất nhiều, bởi giá trị lớn hơn nằm ở khả năng tác động đến những ngành đã tồn tại và làm thay đổi cách thức vận hành của chúng thông qua dữ liệu thời gian thực, tự động hóa và kết nối số.

Trong nông nghiệp, drone có thể đảm nhiệm nhiều khâu trước đây phụ thuộc lớn vào lao động trực tiếp, từ giám sát cây trồng đến phun thuốc và theo dõi mùa vụ; trong ngành điện, việc kiểm tra đường dây, trạm và công trình hạ tầng có thể thực hiện nhanh hơn, giảm bớt rủi ro cho người lao động. Với quản lý đô thị, phương tiện bay kết hợp bản đồ số và dữ liệu thời gian thực có thể hỗ trợ theo dõi giao thông, môi trường, công trình và những tình huống khẩn cấp trên phạm vi rộng. Chính khả năng lan tỏa sang nhiều lĩnh vực khiến kinh tế không gian tầm thấp mang đặc điểm của một lớp hạ tầng công nghệ mới, tương tự cách hạ tầng số từng tạo điều kiện cho thương mại điện tử, tài chính số, logistics thông minh và nhiều mô hình kinh doanh mới phát triển.

Ở góc độ công nghiệp, chuỗi giá trị phía sau UAV còn mở ra nhu cầu đối với chip, cảm biến, pin, vật liệu, thiết bị định vị, hệ thống truyền thông, công nghệ điều khiển, phần mềm, bản đồ số và trí tuệ nhân tạo. Điều này có nghĩa là sự phát triển của kinh tế không gian tầm thấp có thể tạo thêm thị trường cho điện tử, bán dẫn, tự động hóa, viễn thông và công nghệ số. Nếu doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực tham gia sâu, phần giá trị giữ lại trong nước sẽ vượt xa doanh thu từ việc bán hoặc khai thác một chiếc drone.

Ngược lại, nếu thị trường phát triển chủ yếu dựa trên thiết bị, phần mềm và nền tảng điều phối nhập khẩu, Việt Nam có thể cải thiện năng suất ở một số lĩnh vực nhưng khó hình thành năng lực công nghiệp tương ứng, đồng thời đối mặt với mức độ phụ thuộc lớn hơn vào công nghệ bên ngoài, nhất là đối với những hệ thống liên quan trực tiếp đến dữ liệu, vùng trời, hạ tầng trọng yếu và hoạt động quản lý quốc gia. Vì vậy, câu chuyện phát triển kinh tế không gian tầm thấp cuối cùng vẫn quay về năng lực làm chủ công nghệ, hình thành doanh nghiệp nội địa và xây dựng chuỗi giá trị...

Không gian phát triển mới của đất nước

Kết luận số 99-KL/TW ngày 28/9/2026 của Bộ Chính trị về khai thác, quản trị và bảo vệ không gian tầm thấp phục vụ phát triển đất nước trong tình hình mới có ý nghĩa quan trọng bởi văn bản này đặt vấn đề ở tầm chiến lược quốc gia, thay vì tiếp cận kinh tế không gian tầm thấp như một nhóm ứng dụng công nghệ đơn lẻ.

Đại diện Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh làm việc với Mạng lưới hàng không không gian Italy (IAN) về hợp tác phát triển kinh tế tầm thấp (LAE).

Bộ Chính trị xác định không gian tầm thấp là tài nguyên quốc gia, không gian phát triển mới của đất nước và không gian chủ quyền đặc biệt, gắn với bảo vệ chủ quyền không phận, chủ quyền dữ liệu, an ninh mạng và những mục tiêu trọng yếu của quốc gia.

Đây là bước chuyển từ tư duy quản lý phương tiện sang quản trị một không gian phát triển, từ xử lý từng hoạt động riêng lẻ sang hình thành chiến lược quốc gia đối với nguồn lực mới, đồng thời đưa yêu cầu phát triển công nghiệp, làm chủ công nghệ và xây dựng năng lực cạnh tranh vào ngay từ đầu thay vì chờ thị trường phát triển rồi mới điều chỉnh.

Tinh thần đó thể hiện khá rõ qua những mục tiêu cụ thể. Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu đưa vào vận hành 3 khu thử nghiệm bay cấp quốc gia và tối thiểu 1 trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia về UAV; đến năm 2045, kinh tế không gian tầm thấp được định hướng trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, thuộc nhóm động lực tăng trưởng mới, có năng lực cạnh tranh cao trong khu vực và đóng góp khoảng 1,5% GDP quốc gia, trong khi tỷ lệ nội địa hóa các dòng UAV chủ lực phục vụ sản xuất được đặt mục tiêu đạt 30 - 40% vào năm 2030 và trên 85% vào năm 2045.

Những mục tiêu này cho thấy trọng tâm chiến lược không dừng ở mở rộng nhu cầu sử dụng UAV mà hướng đến xây dựng công nghiệp trong nước, bởi tỷ lệ nội địa hóa chỉ có ý nghĩa nếu doanh nghiệp Việt Nam từng bước nắm giữ những khâu có giá trị cao, từ thiết kế, điều khiển, cảm biến, dữ liệu đến nền tảng vận hành; nếu phần cốt lõi vẫn phụ thuộc bên ngoài, số lượng thiết bị sản xuất trong nước dù tăng cũng chưa phản ánh đầy đủ năng lực tự chủ.

Điểm đột phá tiếp theo nằm ở mô hình quản trị, với yêu cầu xây dựng hệ thống thống nhất, hiện đại, dựa trên dữ liệu, nền tảng số và quản trị rủi ro, thực hiện phân loại theo khu vực hoạt động, phân tầng độ cao, loại hình và mức độ nguy hiểm, đồng thời quản lý xuyên suốt từ đăng ký, định danh, cấp phép, điều hành, giám sát đến kiểm tra và xử lý vi phạm; trong năm 2027, các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia về hạ tầng, thiết bị và công nghệ quản lý cũng phải được xây dựng, hoàn thiện theo yêu cầu đặt ra.

Đáng chú ý hơn, Kết luận 99-KL/TW đặt Nhà nước vào vai trò dẫn dắt thị trường ban đầu thông qua đặt hàng, thí điểm và ứng dụng trong khu vực công, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học tham gia nghiên cứu, phát triển, sản xuất và thương mại hóa UAV.

Đối với một ngành công nghệ mới, đây là cơ chế có ý nghĩa thực tế bởi doanh nghiệp thường khó đầu tư lớn trong điều kiện thị trường chưa hình thành, trong khi sản phẩm cũng khó thương mại hóa nếu chưa có môi trường thử nghiệm đủ quy mô; nhu cầu của khu vực công, từ giám sát hạ tầng, tài nguyên, nông nghiệp đến cứu hộ, cứu nạn, có thể trở thành thị trường khởi đầu để doanh nghiệp kiểm chứng công nghệ, hoàn thiện sản phẩm và tích lũy năng lực trước khi mở rộng sang khu vực thương mại.

Kết luận đặt yêu cầu phát triển công nghiệp không gian tầm thấp theo hướng lưỡng dụng, từng bước làm chủ công nghệ lõi, tập trung vào quản lý không lưu tầm thấp, chế tạo và điều khiển phương tiện bay, xử lý dữ liệu tự động, công nghệ kết nối, định vị, vật liệu, an toàn và an ninh; các chính sách hỗ trợ về thuế, tín dụng, đất đai, phát triển khu phức hợp công nghệ, cụm sản xuất, khu thử nghiệm bay quốc gia và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cũng được đặt trong cùng định hướng.

Vai trò của doanh nghiệp tư nhân được xác định khá rõ, nhất là yêu cầu phát huy năng lực của các tập đoàn kinh tế tư nhân trong nghiên cứu, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm. Đồng thời, tập trung hỗ trợ một số doanh nghiệp nòng cốt có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị. Cách tiếp cận này phù hợp với một lĩnh vực có tốc độ đổi mới công nghệ nhanh, nơi Nhà nước khó và cũng không cần trực tiếp thực hiện mọi khâu, nhưng cần tạo luật chơi, thị trường đầu tiên và những điều kiện cần thiết để doanh nghiệp nội địa trưởng thành.

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cũng cần được xem như một trong những điểm đáng chú ý nhất của Kết luận, bởi văn bản yêu cầu xác định rõ phạm vi, thời hạn, tiêu chí đánh giá, cơ chế giám sát và điều kiện kết thúc hoặc mở rộng, đồng thời ưu tiên những nhu cầu thực tế như logistics, nông nghiệp, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, giám sát sạt lở, phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, cấp cứu y tế và đô thị thông minh.

Kết luận số 99-KL/TW ngày 28/9/2026 của Bộ Chính trị nêu rõ: “Không gian tầm thấp là tài nguyên quốc gia, không gian phát triển mới của đất nước, không gian chủ quyền đặc biệt, gắn với nhiệm vụ trọng yếu bảo vệ chủ quyền không phận, chủ quyền dữ liệu, an ninh mạng và bảo vệ các mục tiêu trọng yếu, biên giới, biển, đảo và các đô thị lớn”.

Hà Trang