Đóng

Kiểm toán chỉ rõ 'điểm nghẽn' trong phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế

Chính sách chưa đồng bộ, quy hoạch còn dàn trải, hạ tầng thiếu kết nối là những hạn chế được Kiểm toán nhà nước nhận diện qua kiểm toán khu công nghiệp, khu kinh tế.

Hoạt động của các khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT) đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội tại nhiều địa phương. Tuy nhiên, qua kiểm toán, Kiểm toán nhà nước (KTNN) đã phát hiện những hạn chế về thể chế, quy hoạch, sử dụng đất, hạ tầng và cơ chế phối hợp quản lý, ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác nguồn lực đầu tư.

Tại tọa đàm trực tuyến với chủ đề “Kiểm toán khu công nghiệp, khu kinh tế: Nhận diện điểm nghẽn chính sách, khơi thông nguồn lực đầu tư” do Báo Kiểm toán tổ chức, ông Nguyễn Thanh Hà, Phó Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành II đã chia sẻ những vấn đề nổi lên từ kết quả kiểm toán, đồng thời nêu các kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển KCN, KKT.

Tại tọa đàm “Kiểm toán khu công nghiệp, khu kinh tế: Nhận diện điểm nghẽn chính sách, khơi thông nguồn lực đầu tư”.

Chính sách chưa đồng bộ, nguồn lực đầu tư còn bị hạn chế

Theo ông Nguyễn Thanh Hà, bên cạnh những đóng góp tích cực của KCN, KKT đối với nền kinh tế và các địa phương, kết quả kiểm toán cho thấy vẫn còn nhiều vấn đề cần được tháo gỡ. Một trong những hạn chế nổi bật là chính sách về KCN, KKT chưa được quy định đồng bộ trong hệ thống pháp luật.

Cụ thể, khung pháp lý hiện nay mới dừng lại ở nghị định, chưa có Luật KCN, KKT. Một số văn bản hướng dẫn theo quy định tại Nghị định số 35/2022/NĐ-CP về quản lý KCN, KKT chưa được các cơ quan chuyên môn ban hành đầy đủ, gây khó khăn trong quá trình thực thi chính sách. Những vướng mắc này thể hiện rõ trong việc phát triển các mô hình KCN mới như KCN chuyên ngành, KCN hỗ trợ, KCN dịch vụ. Khi các quy định hướng dẫn chưa đầy đủ, quá trình triển khai các mô hình mới gặp khó khăn, trong khi định hướng phát triển KCN, KKT tại một số địa phương vẫn còn dàn trải.

Qua kiểm toán, KTNN nhận thấy việc đề xuất thành lập KCN, KKT chưa có định hướng rõ ràng, ngành nghề thu hút đầu tư chậm đổi mới theo chiều sâu và giá trị gia tăng. Trong tổng số 499 KCN, có 440 KCN đa ngành, hỗn hợp. Thực trạng này cho thấy cơ cấu ngành nghề tại các KCN chưa chuyển đổi mạnh theo hướng chuyên môn hóa. Việc phát triển các khu đa ngành, hỗn hợp vẫn chiếm tỷ trọng lớn, trong khi yêu cầu đổi mới mô hình thu hút đầu tư ngày càng đặt ra rõ hơn.

Một vấn đề khác được ông Hà đề cập là hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về các cam kết, ràng buộc chuyển giao công nghệ của doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam. Theo kết quả kiểm toán, tình trạng hầu hết doanh nghiệp có chủ thể người Việt chưa được chuyển giao công nghệ vẫn tồn tại. Điều này đặt ra yêu cầu hoàn thiện chính sách đầu tư theo hướng không chỉ thu hút nguồn lực mà còn quan tâm đến công nghệ và khả năng lan tỏa trong nền kinh tế.

Bên cạnh đó, cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư xây dựng nhà ở, thiết chế văn hóa, công trình thể thao và cơ sở giáo dục mầm non phục vụ người lao động trong KCN, KKT chưa đủ hấp dẫn. Các chính sách ưu đãi về miễn, giảm tiền thuê đất, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với những công trình này chưa tạo được sức hút cần thiết. Trong khi đó, việc đầu tư các thiết chế phục vụ người lao động và hạ tầng xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển ổn định của các khu.

Hiệu quả sử dụng đất tại một số KCN, KKT cũng chưa cao. Hạ tầng trong và ngoài KCN chưa đồng bộ, việc thực thi chính sách của cơ quan quản lý nhà nước và nhà đầu tư chưa bảo đảm đầy đủ, thống nhất. Những hạn chế này, theo ông Hà, không chỉ xuất phát từ từng dự án riêng lẻ mà còn liên quan đến hệ thống chính sách, công tác tổ chức thực hiện và sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý.

Phân tích nguyên nhân, ông Hà cho rằng có các nhóm vấn đề chủ yếu. Trước hết, việc chưa có Luật KCN, KKT khiến hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này bị ràng buộc bởi các luật khác, gây khó khăn trong quá trình thực thi chính sách.

Hệ thống chính sách ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đầu tư hiện nay cũng chưa thực sự hiệu quả trong định hướng dòng vốn. Khung chính sách còn dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm; các ưu đãi chủ yếu chú trọng yếu tố đầu vào như vốn và lao động, chưa quan tâm đầy đủ đến công nghệ, đổi mới sáng tạo, giá trị lan tỏa và đóng góp cho cộng đồng.

Các yếu tố đầu ra của dự án đầu tư, tiến độ thực hiện dự án cũng chưa được chú trọng tương xứng trong định hướng chính sách ưu đãi. Theo ông Hà, việc định hướng dòng đầu tư cần gắn với những yếu tố này thay vì chỉ tập trung vào các điều kiện đầu vào. Đây cũng là một trong những vấn đề được KTNN đặt ra trong quá trình kiến nghị hoàn thiện thể chế.

Ông Nguyễn Thanh Hà, Phó Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành II.

Nhóm nguyên nhân thứ hai liên quan đến việc thực thi chính sách của cơ quan quản lý nhà nước và nhà đầu tư chưa bảo đảm tính đầy đủ, đồng bộ. Công tác xây dựng, tổ chức thực hiện và điều chỉnh quy hoạch tại một số địa phương còn chậm, chưa bao quát đầy đủ mục tiêu và chưa bảo đảm quy định. Hoạt động xúc tiến đầu tư vào KCN, KKT còn dàn trải, mang tính cục bộ, chưa được xây dựng đồng bộ, thống nhất với định hướng thu hút ngành nghề ưu tiên.

Công tác phối hợp giữa Ban quản lý KCN, KKT với các sở, ngành địa phương cũng còn hạn chế. Nhiều địa phương chưa ban hành quy chế phối hợp giữa các sở, ban, ngành và Ban quản lý trong quản lý nhà nước về KCN, KKT. Do đó, việc phối hợp trong thực tế chưa đạt hiệu quả, ảnh hưởng đến quá trình tổ chức thực hiện và quản lý các khu.

Hoàn thiện thể chế, tháo gỡ vướng mắc trong quản lý và đầu tư

Từ những phát hiện qua kiểm toán, KTNN đã đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện thể chế, tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho hoạt động của KCN, KKT.

Theo đó, trên cơ sở kết quả kiểm toán, KTNN đã kiến nghị Bộ Tài chính khẩn trương báo cáo Chính phủ việc xây dựng khung pháp lý về KCN, KKT, nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thúc đẩy phát triển kinh tế, thu hút đầu tư và đổi mới sáng tạo. Cùng với đó, KTNN kiến nghị nghiên cứu, tham mưu Chính phủ xem xét sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành theo hướng thống nhất chính sách ưu đãi trong phạm vi một KKT được quy hoạch tích hợp, không phân biệt theo ranh giới vùng, địa phương, hành chính.

Đối với Luật Đầu tư năm 2020, KTNN kiến nghị tham mưu Chính phủ trình Quốc hội sửa đổi theo hướng tránh trùng lặp, giảm bớt thủ tục hành chính trong việc quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư và cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với các dự án đã được cấp chủ trương.

Việc khẩn trương xây dựng, ban hành các quy định theo trách nhiệm được Chính phủ giao tại Nghị định số 35/2022/NĐ-CP cũng được KTNN xác định là yêu cầu cần thực hiện nhằm tạo hành lang pháp lý trong quá trình triển khai. Bên cạnh đó, KTNN kiến nghị rà soát, tổng hợp và báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về ba nhóm vấn đề khó khăn, bất cập liên quan đến Nghị định số 35/2022/NĐ-CP, gồm khu lưu trú chuyên gia, tỷ lệ lấp đầy trong KCN và phân cấp quản lý cho Ban quản lý KCN, KKT. "Đặc biệt, cần báo cáo Thủ tướng Chính phủ những bất cập, lỗ hổng chính sách liên quan đến điều kiện thành lập KCN", ông Nguyễn Thanh Hà nhấn mạnh.

Một nội dung đáng chú ý khác là việc xem xét ban hành quy định về cam kết, ràng buộc đi kèm với khuyến khích, ưu đãi chuyển giao công nghệ của doanh nghiệp nước ngoài cho các tổ chức, doanh nghiệp trong nước khi đầu tư vào thị trường Việt Nam, bảo đảm phù hợp với Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài.

Đối với việc nghiên cứu, ban hành Luật KCN, KKT riêng, ông Hà cho rằng trọng tâm hiện nay là tạo hành lang pháp lý. Việc có ban hành luật riêng hay lồng ghép các nội dung này vào hệ thống pháp luật hiện hành phụ thuộc vào quá trình tổng kết, đánh giá tính khả thi trong công tác xây dựng và ban hành văn bản của bộ chuyên ngành.

Bên cạnh hoàn thiện thể chế, ông Hà cho rằng cần ưu tiên tháo gỡ bốn nhóm vấn đề để KCN, KKT chuyển từ thu hút nguồn lực theo chiều rộng sang động lực tăng trưởng, đổi mới công nghệ và phát triển bền vững.

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý cấp cao, đồng thời khắc phục những lỗ hổng trong thành lập, thẩm định dự án mới. Theo đó, cần sửa đổi các tiêu chí, định lượng về hồ sơ hợp lệ, tỷ lệ lấp đầy thực tế và kiểm soát chặt chẽ năng lực tài chính, tổng mức đầu tư của chủ hạ tầng ngay từ khâu thẩm định.

Thứ hai, chuyển đổi mô hình phát triển từ KCN đa ngành, diện rộng sang chuyên môn hóa, công nghệ cao và sinh thái. Đây là hướng được ông Hà nhấn mạnh nhằm thay đổi cách thức phát triển KCN, gắn với yêu cầu đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng thu hút đầu tư.

Thứ ba, khơi thông điểm nghẽn về đất đai, giải phóng mặt bằng và đồng bộ hóa hạ tầng xã hội, kỹ thuật. Ông Hà cho rằng các địa phương cần kiên quyết rà soát, xử lý hoặc thu hồi đối với những dự án hạ tầng KCN và dự án thứ cấp chậm tiến độ, kéo dài, chiếm giữ đất nhưng không đưa đất vào sử dụng theo đúng quy định của Luật Đất đai năm 2024. Trung ương và địa phương cần ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư công trung hạn, hoàn thiện dứt điểm hạ tầng kết nối ngoài hàng rào, trạm xử lý nước thải đạt chuẩn và quỹ đất xây dựng nhà ở xã hội cho công nhân. Việc đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và xã hội được đặt ra cùng với yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng đất, bảo đảm sự phát triển bền vững của KCN, KKT.

Thứ tư, đổi mới thực chất cơ chế phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu lực hoạt động của Ban quản lý KCN. Theo ông Hà, cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số thông minh, liên thông giữa Ban quản lý, cơ quan thuế, kho bạc và các cơ quan chuyên môn. Hệ thống dữ liệu này nhằm minh bạch hóa quá trình quản lý, thực thi chính sách, nghĩa vụ tài chính và giám sát dự án.

Ông Nguyễn Thanh Hà, Phó Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành II: Các kiến nghị của KTNN tập trung vào việc xây dựng khung pháp lý thống nhất, đồng bộ, thúc đẩy phát triển kinh tế, thu hút đầu tư và đổi mới sáng tạo.

Lê Na